Khóa học hướng dẫn Ngồi thiền chữa bệnh ở Hà Nội


TRUNG TÂM DẬY NGỒI THIỀN Ở HÀ NỘI
Liên tục: Khai giảng khóa học: ngồi “Thiền mà chữa được bệnh”

Ở ngay trong lòng Thủ đô Hà Nội có một
trung tâm hướng dẫn dậy ngồi thiền chữa bệnh. Đó là Trung tâm Trường sinh học dưỡng sinh của Thầy Nguyễn Xuân Điều-
Ủy viên Hội đồng khoa học trung tâm –Trưởng bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh-Huấn luyện ứng dụng năng lượng sinh học. Trung tâm nhận hướng dẫn ngồi thiền cho tất cả các bệnh nhân có bệnh mãn tính-ung thư và những người từ 16 tuổi trở lên đều tham gia khóa học ngồi thiền : (khóa học trọn gói 5 buổi tối/Tuần) : NGỒI THIỀN mà CHỮA ĐƯỢC BỆNH hiệu quả.

khai giảng liên tục: Từ 19h (tối ) thứ 2 – đến (21 h tối) thứ 6 hàng tuần . Khóa học các buổi tối để giúp cho học viên bố trí sắp xếp thời gian học.
Kính mời Mọi người có nhu cầu mời liên hệ: Trung tâm: nhà B1-phòng 207 (Cầu thang 3) ; PHỐ TÔ HIỆU, PHƯỜNG NGHĨA TÂN,QUẬN CẦU GIẤY, HÀ NỘI. Điện thoại : 0912.086. 249 – (04). 3756. 1249. Học viên Liên lạc với trực tiếp Thầy Nguyễn Xuân Điều để xếp lịch học vì hiện nay học viên đi học các buổi tối rất đông.

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018

Nguồn gốc họ Ngô

Chi Họ Ngô Văn ở thôn Thanh Lương xã Phù Lưu huyện Lộc Hà-Hà Tĩnh (2017)


Nguồn gốc họ Ngô  

Họ Ngô xuất hiện rất sớm ở Việt Nam, từ thời các Vua Hùng. Thần phả đình An Duyên (Thường Tín, Hà Tây) ghi tên họ Ngô Ngọc Lang, quán Sơn Nam Hạ, Tướng của các Vua Hùng đời thứ 18. Bia Hàm Long (Hà Nội) có ghi Ngô Long, Tướng của các Vua Hùng đời thứ 18. Với chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938-cách nay đã 1060 năm), chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, Ngô Quyền đã trở thành người Anh hùng Dân tộc. Theo tôc phả họ Ngô do Hán Quốc công Ngô Lan biên soạn năm Đinh Dậu, triều Lê Thánh Tông (1477), thì Tổ họ Ngô là Ngô Nhật Đại, hào trưởng châu Phúc Lộc (vùng Cửa Sót, xã Thạch Kim, Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay). Ngài đã tham gia khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722), sau thất bai phải rời ra vùng Châu Ái (Thanh Hóa). Từ Ngô Nhật Đại đến Ngô Quyền trải qua 5 đời, gần 300 năm không thấy ghi chép rõ ràng. Nếu tính từ Ngô Quyền thì đến nay họ Ngô đã truyền được 36-37 đời, có nơi tính ra đã trên 40 đời, xuất phát từ Châu Hoan, Châu Ái, qua Đường Lâm (Sơn Tây) mà tỏa đi khắp cả nước, có mặt từ Lạng Sơn đến Cà Mau, Hà Tiên… Qua khảo sát ban đầu, chúng tôi xin trình bày thế thứ của dòng họ một cách khái quát như sau: Cụ Tổ đầu tiên là Ngô Nhật Đại, quê Ái Châu, làm nghề nông, chưa rõ ở làng xã nào, sinh con là Ngô (Tá) Nhật Dụ theo Nho học, làm Liễu tá trong Phủ đô hộ thời Bắc thuộc. Rồi đến Ngô Đình Thực là Hào trưởng, sinh Ngô Đình Mân, làm Mục Phong Châu, thời Khúc Thừa Hạo làm Tiết độ sứ. Đến Phong Châu đã cao tuổi, Ngô Đình Mân lấy bà Phùng Thị Tinh Phong, con gái Phùng Hải, cháu Bố Cái Đại vương Phùng Hưng., sinh Ngô Quyền và Ngô Tịnh ở làng Cam Lâm, quận Đường Lâm (có thuyết nói rằng Ngô Quyền sinh ở làng Mía-nay là làng Mía, tức Thịnh Mỹ, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa-có thể xuất phát từ địa danh làng Mía Thọ Xuân trùng với làng Mía Đường Lâm) Ngô Tịnh sau làm Trấn thủ Kỳ Hoa, Kỳ Anh (Hà Tĩnh), sinh ba trai, một gái, người làm Châu mục, người làm Tăng thống, người Hào trưởng…đều thất truyền. Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ (897), mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn (944), thọ 47 tuổi, mộ táng tại thôn Cam Lâm. Theo Quốc sử và văn bia lưu truyền, độ tuổi 20 cha mẹ đã từ trần, Ngô Quyền vào Châu Ái làm Nha tướng Dương Diên Nghệ, lấy con gái Dương Diên Nghệ là Dương Thị Như Ngọc, sinh Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Vân (có thuyết nói rằng, Ngô Quyền còn có hai người con nữa là Cần Hưng và Nam Hưng, khi Nam Kha cướp ngôi cho ở với mẹ). Ngô Quyền vào Châu Ái khoảng chừng 10 năm, ra đánh Lý Khắc Chính rồi lại trở vào Châu Ái khoảng 6-7 năm. Lần thứ 2 ra trừ Kiều Công Tiễn, đánh đuổi quân Nam Hán, làm Vua, đóng đô ở Cổ Loa. Con cháu kế tiếp ở Cổ Loa, đến năm 965 thì lui về ba nơi: Ngô Xương Xý về Bình Kiều (Thanh Hóa), Ngô Nhật Khánh về Đường Lâm. Cha con Ngô Nhật Chung, Ngô Nhật Minh về Đỗ Động (Thanh Oai). Thiên sách vương Ngô Xương Ngập, vợ là Phạm Thị Uy Duyên, con gái Phạm Phòng Át ở Nam Sách, sinh Ngô Xương Xý, Ngô Xương Tỷ, Ngô Xương Tỷ đạo hiệu Châu lưu ở chùa Phật Đà, làng Cát Lợi, quận Thường Lạc (sau do kỵ húy Lê Lợi gọi trệch là Cát Lỵ thuôc huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), giữa thị trấn Cồng và ga Văn Trai). Chúng tôi được biết tin mộ của vị Đại sư này là một trong những ngôi tháp ở chùa Trấn Quốc (Hà Nội) đã đến tìm nhưng chưa thấy. Ngô Xương Xý thất bại ở Bình Kiều, hai con trai, một là Ngô Xương Sắc lưu lạc ở vùng thượng du Châu Ái, sinh Ngô Tử Canh (thất truyền) và Ngô Tử Ân. Con cháu Ngô Tử An, Tử Vinh, Tử Uy v.v…dần dần sa sút, 8 đời sau quá cùng cực. Ngô Rô về coi chùa ở Thiên Phúc, làng Thung, xã Đồng Phang, huyện Yên Định (vào cuối Trần). Đến Hậu Lê thì trỗi dậy, phát triển một cách kỳ lạ nên được giải thích rằng mô táng vào đất phát! Người con thứ hai của Ngô Xương Xý là Ngô Ích Vệ tức Ngô An Ngữ, tuổi nhỏ chạy vào Châu Hoan. Khi Lý Công Uẩn lên làm vua ông ra làm một chức quan nhỏ là Sùng ban lang tướng. Ông theo Vua Lý ra Thăng Long, ở phường Thái Hòa, Khán Sơn, lấy bà họ Hán, sinh ra Ngô Tuấn (tức Lý Thường Kiệt), Ngô Chương (tức Lý Thường Hiến) sau này. Nhà Trần thay nhà Lý, dòng họ Ngô sa sút, tuy nhiên vẫn giữ được nền nếp và ở nhà dạy học. Đến cuối đời Trần, ba anh em của Minh Đức (cha của Ngô Bệ), Minh Hiếu, Minh Nghĩa (cha của Ngô Diên Tố) đổi tên, đi mỗi người một nơi. Những người khác không được ghi chép lại. Cũng từ đó mất quan hệ gia tộc 5-6 trăm năm. Đến ngày nay mới tìm ra mấy họ chạy lánh nạn, đó là: -Họ Lạc Nghiệp: Một bà mẹ đổi tên là Bà Nồm đem con về Giao Thụy, đến nay đã trên 20 đời, thành một họ lớn mấy ngàn người. Có bộ phận trở về quê cũ Nam Sách trông coi từ đường, có bộ phận lên ở Đồng Hỷ-Thái Nguyên, Sơn Dương, Tuyên Quang. -Họ Ngọc Hà Hà Nội phân chia về Vân Động, Đông Cao, Thái Bình. -Họ Nhĩ Thượng ở huyện Gio Linh, Quảng Trị dọc bờ sông Hiền Lương có 6-7 ngàn nhân khẩu ở 6 xã trong đó có 3 xã có chữ Nhĩ, 3 xã có chữ Hà, dần dà có gần 3 ngàn người thiên cư vào Nam. -Họ Bắc Biên Gia Lâm đang hương khói đền Lý Thường Kiệt. Dòng Ngô Xương Sắc ở Châu Aí, từ Hậu Lê trở đi là dòng phát triển mạnh nhất, càng thiên cư xa càng phát triển mạnh, có thể hơn cả dòng họ ở nguyên quán. Sau bảy, tám đời sa sút cùng cực, Ngô Tây ở coi chùa sinh hai con trai. Ngô Quỳnh con bà họ Nguyễn lưu lạc sang huyện Vũ Thư ,Thái Bình đến nay thành họ Minh Lăng có vài ngàn nhân khẩu. Con thứ là Ngô Kinh con bà họ Trịnh đi làm gia nô cho tù trưởng Lê Khoáng, lấy bà họ Lê (cô cháu với bà mẹ Lê Lợi) sinh bốn trai, một gái, giúp Lê Lợi khởi nghĩa. Cha con, ông, cháu thành 7 vị Công thần khai quốc. Bước đột phát kéo dài suốt 300 năm triều Lê, nhân khẩu tăng nhanh; Ngô Từ sinh 11 trai, 8 gái là Ngô Lan, Ngô Nạp, Ngô Khế, Ngô Hộ, Ngô Thị Ngọc Dao… Thời Lê sơ, những người thiên cư vào Quảng Nam sinh sôi thành nhiều dòng họ trên dưới 20 đời tập trung ở Điện Bàn, Duy Xuyên, Hòa Vang tỉnh Quảng Nam. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, quan Đại thần của nhà Lê là Ngô Nhân Dũng không theo Mạc. Đầu năm 1530, Mạc trục xuất Ngô Nhân Dũng về quê ở xã Lý Trai, tổng Vạn Phần. Ông mai danh, ẩn tích lên hương Kẻ Ngọn ở với cháu là Ngô Phúc Tín. Người ta gọi là ông Trục, bà Trục, cùng với bố vợ là Lại Quận công Phan Công Tích trấn thủ tại Nghệ An, lập nghĩa quân phù Lê, diệt Mạc. Những người họ Ngô thiên cư do đi theo Nguyễn Hoàng vào Quảng Trị, Thừa Thiên nay có trên 30 họ, nhiều nhất là đất Huế và lận cận. Những cuộc thiên cư do sa cơ trong chiến tranh Trịnh- Nguyễn (1655-1680) vào vùng Quảng Nam, đến Bình Định, có người vào đến Châu Đốc, đến nay đã 14-15 đời. Ngoài ra ở nhiều cuộc thiên cư lẻ tẻ do hiềm nghi chính trị của Chúa Trịnh, phải chạy ra đất Mạc, đổi họ hoặc không tập trung vào Sơn Nam Hạ và Kinh Bắc, hình thành hai cụm lớn. Đi theo quê mẹ cũng có, ghi không thể hết. Nhìn chung lại, bất cứ thiên cư trong hoàn cảnh nào, đến địa bàn mới nào, thế hệ sau kế thừa thế hệ trước, thường phát triển mạnh hơn ở nguyên quán, đặc biệt là lập nghiệp thường dựa vào lưu vực các sông lớn nhỏ. Các chi họ phải đổi sang họ khác nay đã biết được trên 10 họ đổi sang là: Phạm, Trần, Nguyễn, Lê, Đỗ, Phan, Hoàng, Hoa, Văn, Vũ Văn. Các họ khác đã đổi sang họ Ngô đã biết: Lê đổi sang Ngô ở Nguyệt Viên (Ngô Cao Lăng), họ Lê ở Long Linh, Xuân Dục, họ Nguyễn ở Tam Sơn. Cũng có những nhân vật như Ngô Sỹ Liên, Ngô Tòng Chu chưa biết thuộc dòng nào. Với một chiều sâu và chiều rộng qua lớn, phả ký thất lạc, mất mát quá nhiều, nay lập lại thật là một việc làm vượt qúa sức của một vài người, không sao tránh khỏi có nhiều thiếu sót. Dòng họ Ngô qua hàng ngàn năm lịch sử biến thiên, từ một cội, nảy muôn cành, không khỏi có cành cụt. Nhìn chung, đời này qua đời khác, con cháu nội cũng như ngoại, trai cũng như gái, nêu gương hiếu thảo, trung thực, đảm đang, một lòng vì nước vì nhà của Tiên tổ, qua thử thách giáo dục rèn luyện đã gìn giữ được truyền thống tốt đẹp của dòng họ, đó cũng là một phần của truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

TỘC PHẢ HỌ NGÔ TRẢO NHA THẠCH HÀ (HÀ TĨNH) DÒNG NGÔ NƯỚC; TỪ ĐỜI  21.  (Trảo Nha nay thuộc thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh)
21 Ngô Nước (Ngô Lợi) Quản Lĩnh công.
Con trai Thanh Quốc công Ngô Khế,một trong sáu người “cư biệt quán”,ông lánh vào xã Chỉ Châu huyện Thạch Hà ,sau dời qua làng Trung Thuỷ,định cư ở thôn Thổ Sơn xã Đan Liên,sau đổi là xã Trảo Nha trấn Thạch Hà,nay là thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.Ông bà nấu rượu nuôi lợn để sinh sống.
Được tặng phong Nghệ An Quản lĩnh.
Mộ hai ông bà táng ở dăm Nhà quan thôn Thổ Sơn.
Thuỵ hiệu:  Thuỷ tổ Nghệ An vệ, Chánh Quản Lĩnh công,  thuỵ Chính Nhân phủ quân.
Sinh Ngô Phúc Hải.  

22 Ngô Phúc Hải              Đô Tổng binh
Bà cả người Trảo Nha,bà thứ người Hoa Viên cư ngụ xã Phú Điền.
Mộ được thiên táng ở chân núi Mã Yên Sơn (rú Rum) xã Phúc Lễ
huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An .
Thuỵ hiệu:Thái Nguyên trấn Đô Tổng binh sứ ty,Đô tổng binh Đồng tri Ngô
                  Tướng công thuỵ Chính Đạo phủ quân
 Sinh Ngô Phúc Hà Thuần trung Hầu.

23 Ngô Phúc Hà              Chủ bộ Thuần trung Hầu :
Mộ tại chân núi Mã Yên Sơn, xã Phúc Lễ huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An.
Thuỵ hiệu :Yên Vương phủ Chủ bộ, tặng Thuần trung Hầu, thuỵ Giác Tính        
                    phủ quân.
Bà cả người Trảo Nha sinh                   -Ngô Phúc Thanh,
Bà thứ người Hoa Viên sinh                -Ngô Phúc Điền Thuỷ tổ họ Ngô -Phú Điền, Hưng Phú,
Hưng Nguyên, Nghệ An.

24 Ngô Phúc Thanh        Thái Bảo Vĩnh Lộc Hầu :
Trấn thủ trấn Nghệ An,tước Vĩnh Lộc Hầu, được mệnh danh
“Nam diện trường thành”,mất trước ngày Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê(1527).
Thuỵ hiệu :
Nghệ An xứ Đô Tổng binh sứ ty Đô tổng binh sứ, tặng phong Thái Bảo,  Ngô Tướng công, thuỵ Trung Túc phủ quân.
Sinh Ngô Cảnh Hựu. 

25 Ngô Cảnh Hựu    (1520-1596 )   Thái bảo Thế Quận công
Có tên Ngô Phúc Trừng,(vì kỵ huý ,đổi một thời gian).Có nhiều
chiến công đánh Mạc xếp hạng Nguyên công,phong”Luỹ đại công thần  dữ quốc đồng hưu”.
Thuỵ hiệu:
Phụ quốc Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thiếu bảo Thế Quận công, gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc Thượng tướng quân,
Bật nghĩa Doanh Ngô Tướng công, tự Minh Trứ,thuỵ Đôn Hậu phủ quân.
Ông xin về trí sĩ năm 1594.
Mất ngày 25 tháng 5 năm Bính Thân 1596,mộ ở thôn Chi Lễ xã Thái Hà.
Có ba bà:Từ Quang,Diệu Hằng,Trịnh Thị  Diệu Minh, sinh :
-Ngô Phúc Tịnh                Tứ Quận công,
-Ngô Phúc Hoành              Hoành Phố Hầu, họ Chỉ Châu,
-Khang trạch Hầu              họ Cổ Bái,
-Câu kê Hầu                      họ Thạch Mỹ,
-Ngô Đăng Khản              họ Hà Linh,
-Ngô Thuận Tâm              họ Trần- Vỵ Xuyên,
-Ngô Thị  Ngọc Nguyên     Thứ phi Chúa Trịnh Tùng

26 Ngô Phúc Tịnh            Thái bảo Tứ Quận công
 Thuỵ hiệu:
Hiệp mưu Dương võ Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Tứ Quận công,
Gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc,tự Minh Triết,thụy Đức Long phủ quân.
Bà chính thất Quận Chúa Trịnh Thị Ngọc Mai con Triết vương Trịnh Tùng không có con,
Bà Lê Thị  Đệ là vợ trước, đem con ra ở nhà  riêng nhường ngôi chính thất cho Quận chúa,sinh :
-Tào Quận công Ngô Phúc Vạn,
-Vỵ Quận công không rõ tên,
– và hai con gái.

27 Ngô Phúc Vạn (1577-1652)    Phó tướng Thái bảo Tào Quận công
Có tên là Phúc Mại,tự Tử Hán,hiệu Huân Dương Chân nhân,người đương thời tôn xưng Phật Thái bảo.
Thuỵ hiệu:
 Dương võ Uy dũng Công thần,Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng 
 quân,Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng phủ sự, Trung  
nhuệ Quân doanh, Phó tướng Thiếu uý Tào Quận công, gia phongThái bảoThượng Trụ quốc,Ngô Tướng công, tự Hùng Thao, thuỵ Mỹ Thiện phủ quân.
Ông sinh giờ Dần,ngày 20 tháng 5 năm Đinh Sửu 1577,mất ngày 15 tháng 8 năm Nhâm Thìn 1652,mộ táng trên đồi Nghèn,huyệt sâu 17 mét.
Năm 1993 đền và mộ đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá.
Bà chính thất là Quận Chúa Trịnh Thị  Ngọc Uyên,con gái Bình An
Vương Trịnh Tùng.
Ông có tất cả 7 bà, sinh 10 con trai,15 con gái (có hai người là Cung tần).
10 con trai nay thành 10 chi :
-Nhuận Quận công Ngô Phúc Thiêm,       chi trưởng
-Hàn Quận công Ngô Phúc Đang,            chi 2
-Đằng Quận công Ngô Phúc Hạp,            chi 3
-Đáng Quận công Ngô Phúc Tân,             chi 4
-Phương Quận công Ngô Phúc Hộ,          chi 5
-Kiêm lộc Hầu Ngô Phúc Điền,                chi 6
-Hào mỹ Hầu Ngô Phúc Liêu ,                 chi 7
-Vân lĩnh Hầu Ngô Phúc Phổ,                  chi 8
-Toản võ Hầu Ngô Phúc Trị ,                    chi 9
-Khanh tương Hầu Ngô Phúc Triều ,        chi 10.

27 Vỵ Quận công        không rõ tên huý,bà là Quận chúa họ Trịnh, sinh hai con trai:
-Diên Quận công    không rõ tên huý,bà là Quận chúa họ Trịnh
nay là thuỷ tổ họ Tam Đa,
-Lý Quận công       không rõ tên huý, thất truyền.

Dòng Ngô Nước phân chi lần thứ nhất vào đời thứ 24:
                                      Ngô Phúc Thanh  ở Trảo Nha là dòng trưởng,
                                       Ngô Phúc Điền ở Hưng Phú là dòng thứ.
       Phân chi lần thứ 2 vào đời thứ 26:
                                      Ngô Phúc Tịnh ở Trảo Nha,         Ngô Phúc Hoành ở Chỉ Châu,
                                      Khang Trạch Hầu ở Cổ Bái,          Câu Kê Hầu ở Thạch Mỹ,
                                      Ngô Đăng Khản ở Hà Linh,     Ngô Thuận Tâm  con cháu ở Vỵ Xuyên.
       Phân chi lần thứ 3,vào đời 28:
                                      Các con trai Ngô Phúc Vạn phân thành 10 chi mới, ở khắp các tỉnh 
                                      Trung Nam Bắc.
Từ sau  phân chi thiên cư ,ngày nay thành trên 30 họ , thế thứ lần lượt ghi chép dưới đây theo từng dòng trên xuống. 

Họ  Ngô Phú Điền
Xã Hưng Phú huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An

24   Ngô Phúc Điền     con thứ Thuần Trung Hầu Ngô Phúc Hà (mất liên lạc từ lâu,đến                                 năm 1976 mới bắt liên lạc lại với họ Trảo Nha)                                                                 
25   Ngô Tự Toàn         thuỵ Chân Tâm
26   Ngô …                    Hương Đình kỳ lão, sinh Ngô Trung Lương
27   Ngô Trung Lương sinh Ngô Hữu Dũng
28   Ngô Hữu Dũng      sinh Ngô …Chánh Đội trưởng
29   Ngô ….                   Chánh Đội trưởng, sinh Ngô Hữu Quý
30   Ngô Hữu Quý        Yên lại đồn điền Phó sứ, sinh Ngô Hữu Chấp
31   Ngô Hữu Chấp      sinh hai trai thành hai chi,gia phả thất lạc
Trên đây là dựa vào mộc chủ và tư liệu ghi chép để kỵ lạp.Gia phả chính Ty Văn hoá Nghệ An mượn từ năm 1950 không trả lại. Thế thứ tiếp theo trong họ có người ghi chép nhưng chưa xong,chỉ biết con cháu ngày nay đã đến đời thứ 40.


Họ Ngô Chỉ Châu
Dòng Hoành Phố Hầu Ngô Phúc Hoành
Xã Thạch Trị huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.
      
26   Ngô Phúc Hoành  Hoành Phố Hầu, con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu,ở xã
Đan chế dời về Chỉ Châu,nơi Thủy Tổ Ngô Nước dừng chân
ngày trước.Ông có nhiều con.Vào khoảng 1560-1570,quân nhà
Mạc nhiều lần tấn công vào Nghệ An,có lần Mạc Đôn Nhượng
chiếm đóng đất trấn Nghệ từ bờ nam sông Lam trở vào hai tháng
liền,người lớn còn phải đi đánh giặc,con cái ở quê phải
chạy giặc, mỗi người một nơi,sau đó có người trở về, có người ở luôn
thành quê mới.Nay thành mấy chi họ.
27   Ngô Phúc Trạch              ở Chi Lễ sau dời Bảo Tháp.
Ngô Phúc Yên                       ở Đồng Lưu.
Ngô Phúc Trinh                      ở Cẩm Tiến ,có con Ngô Phúc Lý ra ở Yên Hồ.
Một dòng ở lại Chỉ Châu và Trung Thủy.
Trong mấy người trên không rõ ai anh ai em,chi ở Thạch Trị (Chỉ Châu) lo việc trông  coi mồ mả).

Chi Bảo Tháp -Thái Hà, huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh

27   Ngô Phúc Trạch   ở Chi Lễ xã Phúc Lễ, sinh Ngô Phúc Phấn.
28   Ngô Phúc Phấn      sinh  3 con trai,trưởng Ngô Phúc Lăng.
29   Ngô Phúc Lăng      sinh 9 con trai,trưởng Ngô Phúc Đạn.
30   Ngô Phúc Đạn       sinh 5 con trai.
31   Ngô Phúc Đào       con thứ Ngô Phúc Đạn,sinh Ngô Phúc Yên,Ngô Phúc Tư (có 4 con).
(Mất phả  4 đời)
36   Ngô Phúc Tao        sinh Ngô Đức Sơn,Ngô Đức Thịnh,Ngô Đức Vương,
Ngô Đức Trường,Ngô Đức Tài.
37   Ngô Đức Sơn        sinh Ngô Đức Linh.

37   Ngô Đức Thịnh      sinh Ngô Đức Dòng.
38   Ngô Đức Dòng      sinh Ngô Đức Thuận .

37   Ngô Đức Bảy        sinh Ngô Quang Hà,Ngô Việt Hà.
37   Ngô Chu                sinh Ngô Đức Thực.
37   Ngô Hạp                sinh Ngô Đức Phố,Ngô Đức Xá.

38   Ngô Đức Phố         sinh Ngô Tín Dũng.
38   Ngô Đức Xá          sinh Đức Nhã,Đức Định.

34   Ngô Đức Hiệu       sinh Ngô Trí,Ngô Nhuận.
35   Ngô Trí                  sinh Ngô Đôn,Ngô Trung,Ngô Chính.

36   Ngô Đôn                sinh Ngô Quốc Lương,Ngô Đức Hiền.
37   Ngô Quốc Lương  sinh Ngô Quốc Tường,Ngô Quốc Bảo.

36   Ngô Trung             sinh Ngô Quốc Tuấn,Ngô Quốc Hùng,Ngô Quốc Cường.
36   Ngô Chính             sinh Ngô Minh Long,Ngô Minh Quân.

35   Ngô Nhuận            sinh Ngô Hồng,Ngô Đức Hà.

36   Ngô Hồng              sinh Ngô Hữu Đức.
36   Ngô Đức Hà          sinh Ngô Việt Hùng.

34   Ngô Đức Tư          sinh Ngô Huy,Ngô Quang,Ngô Bích,Ngô Hoàng,
Ngô Châu.
35   Ngô Huy                sinh Ngô Cơ,Ngô Võ,Ngô Ngọc.

36   Ngô Cơ                  sinh Ngô Thảo,Ngô Thuận.
36   Ngô Ngọc              sinh Ngô Anh Tuấn.
36   Ngô Võ                  sinh Ngô Thiên,Ngô Dung,Ngô Thăng,Ngô Kiện.

35   Ngô Bích               sinh Ngô Thọ,Ngô Uyên,Ngô Trân,Ngô Lân,
Ngô Mân,Ngô Quỳnh.
36   Ngô Ngọc Thọ    sinh Ngô Đức Cành,Ngô Hoài.
36   Ngô Ngọc Uyên    sinh Ngô Ngọc Quyền,Ngô Bính.
36   Ngô Ngọc Trân      sinh Ngô Tuấn Anh.
36   Ngô Lân                 sinhNgô Công,Ngô Huân,Ngô Hân.
36   Ngô Mân                sinh Ngô Hùng,Ngô Hoàng,Ngô Hà.
36   Ngô Quỳnh            sinh Ngô Ngân.

35   Ngô Hoàng            sinh Ngô Cận,Ngô Tạo,Ngô Hồ,Ngô Luyện.
36   Ngô Cận                sinh Ngô Đạt,Ngô Thắng.
36    Ngô Tạo               sinh Ngô Kiên,Ngô Tâm.
36    Ngô Hồ                 sinh Ngô Bính,Ngô Vinh,Ngô Nhật.
36    Ngô Luyện            sinh Ngô Quảng,Ngô Nam.

35   Ngô Chân              sinh Ngô Huynh,Ngô Oánh.
36   Ngô Huynh            sinh Ngô Trình,Ngô Khuyên.

33   Ngô Trạc                thiên cư Chu Lễ sinh Ngô Đình Ngôn,Ngô Đình Giảng,
Ngô Đình Đấu,Ngô Thị  Kiên.
34   Ngô Đình Ngôn     sinhNgô  Đình Khiên.
35   Ngô Đình Khiên    sinh Ngô Tuấn,Ngô Mạnh,Ngô Thắng,
Ngô Đốc,Ngô Khanh(Ls).

34   Ngô Đình Giảng    sinh Ngô Đức Thuyết,Ngô Đức Thành (Ls).
35   Ngô Đức Thuyết    (1920-1990) sinhNgô Đức Phúc,Ngô Thị  Thanh,
Ngô Thuỷ,Ngô Huơng,Ngô Dung,Ngô Lan.

32   Ngô Phúc Tuý       sinh Ngô Phúc Thuỳ,Ngô Phúc Đo,
Ngô Phúc Chúc (1826-1909),Ngô Phúc Đàn,Ngô Phúc Kiên.
33   Ngô Phúc Đàn       sinh Ngô Phúc Tráng,Ngô Phúc Thắng,Ngô Phúc Hoà
và 4 người nữa.

33   Ngô Phúc Kiên      sinh Ngô Phúc Mãn,Ngô Phúc…,Ngô Phúc Linh,
Ngô Phúc Kha,Ngô Phúc Cân.
34   Ngô Phúc Mãn       sinh Ngô Phúc Lê.
Ngô Phúc…                 sinh Ngô Phúc Ngư



30   Ngô Phúc Tiêu       sinh Ngô Phúc Hiên bốn anh em.
31   Ngô Phúc Hiên      sinh Ngô Phúc Cư.
32   Ngô Phúc Cư         sinh Ngô Phúc Túc.

Nay đã đến đời thứ 37,phả bị cháy trong cơn hoả hoạn,đến đời 33,34, các ông Ngô Ngụ,Ngô Sỹ,Ngô Hoà mới sưu tầm ghi chép lại vào những năm Khải Định nhà Nguyễn.


Họ Ngô -Đồng Lưu xã Thạch Vĩnh huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh

27   Ngô Phúc Yên      con trai Hoành Phố Hầu Ngô Phúc Hoành, sinh Ngô Văn Định.
28   Ngô Văn Định       sinh Ngô Văn Lý, Ngô Văn Vinh, Ngô Văn Khoan, Ngô Văn Điệt.
29   Ngô Văn Lý           sinh Ngô Văn Mưu.
30   Ngô Văn Mưu       sinh Ngô Văn Chiến, Ngô Văn Tri.
31   Ngô Văn Chiến      sinh Ngô Tài.
32   Ngô Tài                  sinh Ngô Kiều.
33   Ngô Kiều               sinh Ngô Quyền.
34   Ngô Quyền            sinh Ngô Đệ.
35   Ngô Đệ                  sinh Ngô Tập.
36   Ngô Tập                 sinh Ngô Hợi.
37   Ngô Hợi                 sinh Ngô Cai.
38   Ngô Cai                 sinh Ngô Hoà,Ngô Hợp.

Các phái khác chưa có thế thứ.


Ảnh chụp Chi họ Ngô Văn ở Thanh Sơn-Kim Bảng-Hà Nam (12/2017)
Họ Ngô Cẩm Tiến, huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh

27   Ngô Phúc Trinh   con Hoành Phố Hầu Ngô Phúc Hoành,sinh Ngô Đình Thắng,
Ngô Đình Tình, Ngô Văn Mai, Ngô Văn Hài.
28   Ngô Đình Tình       sinh Ngô Huy Mai, Ngô Văn Dinh.
29   Ngô Huy Mai         sinh Ngô Văn Ngụ, Ngô Văn Quang, Ngô Văn Dịch.
30   Ngô Văn Ngụ        sinh Ngô Văn Hải, Ngô Văn Tế, Ngô Văn Truyền,
Ngô Văn Nhương.

31   Ngô Văn Hải         sinh Ngô Văn Hiến, Ngô Văn Tân (thất truyền).
31   Ngô Văn Tế           sinh Ngô Văn Năm (thất truyền).

31   Ngô Văn Truyền    sinh Ngô Văn Suyền, Ngô Văn Điền, Ngô Văn Cử,
Ngô Văn Hiệu.
32   Ngô Văn Suyền     sinh Ngô Văn Hoàn, Ngô Văn  Hoạt, Ngô Thị  Nhiên,
Ngô Thị  Niêm, Ngô Thị  Cúc.
33   Ngô Văn Hoàn      sinh Ngô Văn Toàn, Ngô Thị  Yến.
34   Ngô Văn Toàn       sinh Ngô Sỹ Quế, Ngô Mạnh Đức, Ngô Trọng Tài,
Ngô Dương Trí, Ngô Thị  Hảo, Ngô Thị  Hiên, Ngô Thị  Lài.

33   Ngô Văn Hoạt       sinh Ngô Văn Kiêm, Ngô Văn Cườm, Ngô Thị  Khươm,
Ngô Thị  Ươm, Ngô Thị  Niên, Ngô Thị  Cúc.
34   Ngô Văn Kiêm      (sinh 1944) ,sinh Ngô Văn Huy, Ngô Thị  Hạnh, Ngô Hoài,
Ngô Am.
34   Ngô Văn Cườm     bà Y Gái người Đắc Lắc,sinh Ngô Thị  Hoa, Ngô Thị  Mùi,
Ngô Văn Trúc, Ngô Văn Trinh, Ngô Văn Bảy, Ngô Thị  Đông.

32   Ngô Văn Cử          sinh Ngô Văn Nôi, Ngô Thị  Phác, Ngô Thị  Trực
33   Ngô Văn Nôi         sinh Ngô Văn Hôi(l.s), Ngô Văn Tý, Ngô Chiến, Ngô Đấu
34   Ngô Văn Tý           sinh Ngô Đức Hoàng, Ngô Sửu, Ngô Thị  Phương

32   Ngô Văn Hiệu       sinh Ngô Văn Mưu, Ngô Đức Chất, Ngô Văn Mai
33   Ngô Văn Mưu       sinh Ngô Đức Thông, Ngô Văn Công, Ngô Thị  Lưu
34   Ngô Đức Thông      sinh Ngô Đức, Ngô Nam, Ngô Ninh, Ngô Linh, Ngô Anh
34   Ngô Văn Công      sinh Ngô Văn Đương, Ngô Thị  Diệu, Ngô Cảnh

33   Ngô Đức Chất       sinh Ngô Đức Long, Ngô Thị  Liên, Ngô Châu
34   Ngô Đức Long      sinh Ngô Thị  Hương, Ngô Huyền, Ngô Quyên , Ngô Danh.

Chi Yên Hồ , huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh
 Phân chi từ Cẩm Tiến huyện Cẩm Xuyên

28   Ngô Văn Hài         Con Ngô Phúc Trinh ở Cẩm Tiến,ra Yên Hồ dạy học,ở lại.
Bà Nguyễn Thị  Việt sinh Ngô Đăng Đệ.
29   Ngô Đăng Đệ        bà Nguyễn Thị  Thiệp sinh Ngô Đức Kháng, Ngô Văn Lý
30   Ngô Đức Kháng    bà Dương Thị  Nhị
30   Ngô Văn Lý           bà Nguyễn Thị  Tam sinh Ngô Thị  Quế,Ngô Thứ,Ngô Chiểu,
Ngô Lương,Ngô Văn Thạch, Ngô Thị  Khách, Ngô Thị  Dụ

31   Ngô Văn Thạch     sinh Ngô Văn Huýnh, Ngô Văn Chí, Ngô Thị  Diệp,
31   Ngô Chiểu             sinh Ngô Đức Phổ, Ngô Đức Hiệu, Ngô Đức Tư
32   Ngô Đức Phổ         sinh Ngô Quý, Ngô Mai, Ngô Chu, Ngô Hạp và 3 con gái
33   Ngô Quý                sinh Ngô Quát, Ngô Tiến, Ngô Phùng, Ngô Toại, Ngô Thị  Chắt

34   Ngô Quát               (Đh),sinh Ngô Đạo, Ngô Đạt, Ngô Viễn, Ngô Thị  Hoá,
Ngô Thị  Hương, Ngô Thị  Lan, Ngô Thị  Mai
34   Ngô Tiến                sinh Ngô Văn Hoa, Ngô Đức Hiệp
34   Ngô Toại                sinh Ngô Chi, Ngô Nguyên

33   Ngô Mại                 sinh Ngô Đức Tạo, Ngô Đức Hồng, Ngô Đức Phúc, Ngô Đức Bảy
34   Ngô Đức Phúc       (Pts), bà Lê Thị  Út  sinh  Ngô Đức Anh, Ngô Vân Anh
Họ Ngô- Cổ Bái  Tự Cường
Xã Thạch Ngọc  huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh

26   Khang Trạch Hầu thuỵ Mai Trai, không rõ huý,con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu.
Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân Đô Chỉ huy sứ ty
Đô Chỉ huy sứ,sinh Vân Lộc Hầu và Ngô Phúc Đường (phả Cổ
Bái ghi thất truyền,có thể đổi tên về ở Đỉnh Lự).

27   Vân Lộc Hầu      không rõ huý, Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân Cấm y vệ
Đô Chỉ huy sứ ty Đô Chỉ huy sứ,sinh Tín Vũ Hầu,Vinh Thái Hầu .

28   Tín Vũ Hầu                     Chánh đội  trưỏng, sinh ba con trai thành ba chi:

29   Ngô Phúc Hy                  chi Tự Cường, sinh Ngô Phúc Tân,Ngô Đức Phương,
29    Ngô Phúc Anh               chi Cổ Bái,
29    Ngô Phúc Thiên                         chi Mỹ Đại nay chỉ còn vài gia đình.
(Cả ba chi chưa có thế phả đầy đủ).
28   Ngô Phúc Khê       Vinh Thái Hầu (thất truyền).

29   Ngô Phúc Hy`     Con trưởng Tín Vũ Hầu,con cháu sang ở làng Tự Cường,nay
thuộc huyện Can Lộc,sinh Ngô Phúc Tân,Ngô Đức Phương.
30   Ngô Phúc Tân        sinh 4 con trai,trưởng Ngô Đức Bích.
31   Ngô Đức Bích       bà Đặng Thị  Len sinh 9 con, trưởng là Ngô Đức Thanh.
32   Ngô Đức Thanh     sinh 6 con, trưởng là  Ngô Đức Tôn
33   Ngô Đức Tôn         sinh 9 con, trưởng là Ngô Đức Cánh

34   Ngô Đức Cánh      sinh 6 con, trưởng là Ngô Đức Dòng
34   Ngô Đức Dân        sinh  9 con, trưởng là Ngô Đức Hợi
34   Ngô ĐứcĐại          sinh 5 con, trưởng là Ngô Đức Hải
34   Ngô Đức Nam       sinh 5 con, trưởng là Ngô Đức Nam
Tiếp theo mỗi đời đều đông con cháu chưa ghi chép hết.

Họ Đỉnh Lự
Xã An Lộc huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh
27   Ngô Hữu Tôn       Con thứ Khang Trạch Hầu,tướng triều Lê,
bà Nguyễn Thị  Nguyên
sinh Ngô Đại,Ngô Hữu Thanh,Ngô Sơn và 4 người
chết trẻ là Ngô Yến,Ngô Hiên,Ngô Nhân,Ngô Hường.
28   Ngô Hữu Thanh     bà Nguyễn Thị  Nghiêm,sinh Ngô Phú Tâm,Ngô Minh Chiếu
(đều vô tự),Ngô Văn Năng.
29   Ngô Văn Năng      bà Trần Thị  Nhâm, sinh Ngô Việt Yên, Ngô Việt Nho,
Ngô Thị  Xã, Ngô Thâu, Ngô Quít.
30   Ngô Việt Yên        bà Phan Thị  Thiên ,sinh Ngô Nhân Chính, Ngô Nhân Nhiêm.

Phái I
31   Ngô Nhân Chính   bà Phạm Thị  Chải, sinh Ngô Đình Thạc,Ngô Láng(vô tự).
32   Ngô Đình Thạc      Chánh tổng, sinh Ngô Đình Anh, Ngô Đình Sơn.

33   Ngô Đình Anh       sinh Ngô Thác và 2 người vô tự.
33   Ngô Đình Sơn       Ưu binh
33   Ngô Tân
33   Ngô Mạn

34   Ngô Thác               tức Sum, sinh Ngô Trân,Ngô Lai,Ngô Thị  Di,Ngô Cương (vô tự).
34   Ngô Đáng              Ngô Thị  Mân               Ngô Thị  Nhạn                Ngô Thị  Mực
Ngô Du                      Ngô Thị  Tính                 Ngô Thị  Phương             Ngô Thị  Lưu
Ngô Huỳnh                Ngô Thị  Tạo                    Ngô Thị  Toán                 Ngô Thị  Phong
Ngô Dự                      Ngô Thị  Quý

35   Ngô Bộ                  bà Nguyễn Thị  Thuộc, sinh Ngô Đảng, Ngô Thuộc, Ngô Quân,
Ngô Thị  Bương, Ngô Vỵ, Ngô Diện, Ngô Thị  Truyền.
36   Ngô Đảng              sinh Ngô Ngân , Ngô Đề, Ngô Nhiêu, Ngô Thị  Bút.
36   Ngô Thuộc             bà Phan Thị  Trang và Nguyễn Thị  Thân, sinh Ngô Giống,
Ngô ThọLong, Ngô Thị  Dung.
36   Ngô Quân              bà Phan Thị  Kỳ và Phan Thị  Yên, sinh Ngô Thập,Ngô Thêu.

37   Ngô Ngân              bà Nguyễn Thị  Lũng, sinh Ngô Thiều, Ngô Thị  Vân,
Ngô Thị  Vây, Ngô Vy, Ngô Quy.
37   Ngô Đề                  sinh Ngô Khanh, Ngô Thị  Khuê.
37   Ngô Giống             sinh Ngô Thị  Quang.
37   Ngô Thập               sinh Ngô Thị  An, Ngô Thị  Đức.
37   Ngô Thêu               sinh Ngô Chương, Ngô Thị  Úc.

38   Ngô Mạnh              bà Phan Thị  Hình, sinh Ngô Thuận.
38   Ngô Chương          sinh Ngô Thị  Xuân.
38   Ngô Thiều              bà Nguyễn Thị  Chấp sinh Ngô Tạo, Ngô Thị  Điểm.

39   Ngô Thuận             bà Bùi Thị  Cáp, sinh Ngô Thị  Mỹ,Ngô Đại .

Phái II
31   Ngô Nhiệm            làm quan triều Lê,bà Trần Thị  Ngon, sinh Ngô Diên ( ở xã Đồng
Đức huyện Đông Thành tỉnh Nghệ An), Ngô Cảnh, Ngô Thị  Yêm,
Ngô Bàng Ngô Hảo,Ngô Khánh.
32   Ngô Cảnh              bà Phan Thị  Thiều, sinh Ngô Đình Hy,Ngô Lữ,Ngô Mạc.
33   Ngô Lữ                  bà Lê Thị  Thuỷ, sinh Ngô Dân, Ngô Thị  Huân, Ngô Thiêm,
Ngô Đình, Ngô Mạn.
34   Ngô Dân                sinh Ngô Huyên,Ngô Hanh, Ngô Thị  Thành, Ngô Đô, Ngô Đang.

35   Ngô Huyên            sinh Ngô Cẩn,Ngô Uyn, Ngô Thị  Tam,Ngô Ô,Ngô Sum,
Ngô Thị  Long, Ngô Thị  Phúc.
35   Ngô Hanh              sinh Ngô Thị  Duôn.

36   Ngô Cẩn                Suất đội,sinh Ngô Cần,Ngô Cáp , Ngô Thị  Dóc, Ngô Thị  Phách.
36   Ngô Uyn                sinh Ngô Thị  Dành, Ngô Thị  Dừng, Ngô Thị  Sừng,
Ngô Sơi,Ngô Rương, Ngô Thọ,Ngô Bích, Ngô Thị  Trinh.
36   Ngô Ô                    sinh Ngô Thị  Sửu, Ngô Thị  Đôi, Ngô Thị  Long,Ngô Hàng,
Ngô Đán.
36   Ngô Sum                sinh Ngô Quyền, Ngô Thị  Lương, Ngô Ngô Duyên,Ngô Thuận.
36   Ngô Tan                 sinh Ngô Thị  Cúc, Ngô Thị  Ký.

37   Ngô Cáp                sinh Ngô Thị  Tráng,Ngô Trử, Ngô Thị  Sứ,Ngô Thứ,Ngô Ngụ,
Ngô Tri.
37   Ngô Sơi                 sinh Ngô Suyền ở Nghĩa Đàn xã Nghĩa Tiến,Ngô Sư,Ngô Luật.
37   Ngo Rương            sinh Ngô Đình Thịnh,Ngô Thiêng, Ngô Đình Khai,
Ngô Thị  Khay, Ngô Thị  Vân.
37   Ngô Thọ                 sinh Ngô Thị  Phú, Ngô Gia, Ngô Cường, Ngô Trường,
Ngô Đức Thanh.
37   Ngô Bích               sinh Ngô Thị  Bốn, Ngô Thị  Hà.
37   Ngô Hàng              sinh Ngô Thị  Huyên.
37   Ngô Đán                sinh Ngô Hùng, Ngô Thị  Nhơn,Ngô Nghỉ.
37   Ngô Quyền            sinh Ngô Huống.

38   Ngô Tri                  sinh Ngô ĐứcTuấn, Ngô Thị  Đỏ
38   Ngô Sư                  sinh Ngô Dương, Ngô Thị  Văn, Ngô Châu,Long,Ngô Vy
38   Ngô Luật               bà Nguyễn Thị  Chính, sinh Ngô Đức Thanh (Ls), Ngô Đức Vương,
Ngô Thị Lan, Ngô Giang
38   Ngô Thiêng            sinh Ngô Đức Tư, Ngô Đức Vệ,Ngô Thơ, Ngô Thị  Bình,
Ngô Thị  Huệ, Ngô Thị  Tươm, Ngô Thị Thời, Ngô Thị  Chắt
38   Ngô Đình Khai      sinh Ngô Đức Ngân (Ls), Ngô Đức Bắc, Ngô Đức Tiến,
Ngô Thị  Hà, Ngô Thị  Loan
38   Ngô Đức Thanh     sinh Ngô Đức Anh, Ngô Đức Hiên, Ngô Đức Hạnh,
Ngô Thị  Nga, Ngô Thị  Oanh, Ngô Thị  Cúc
38   Ngô Huống            sinh Ngô Đức Thuỳ, Ngô Đức Châu, Ngô Thị  Thanh,
Ngô Thị  Úc, Ngô Thị  Thập

39   Ngô Đức Tuấn       sinh Ngô Đức Nam, Ngô Đức Tuân, Ngô Thị  Hoa, Ngô Thị   Lý
39   Ngô Đức Vương   sinh Ngô Thức, Ngô Đức Hữu, Ngô Thị  Ngọc ,
Ngô Thị  Phương
39   Ngô Đức Tư          sinh Ngô Thi, Ngô Dung, Ngô Thị  Hiền
39   Ngô Đức Vệ          sinh Ngô Thị  Anh, Ngô Thị  Thao
39   Ngô Đức Bắc         sinh Ngô Đức Trung, Ngô Đức Hiếu
39   Ngô Đức Tiến        sinh Ngô Đức Tới
39   Ngô Đức Anh        sinh Ngô Đức Hùng, Ngô Đức Dũng, Ngô Thị  Hương
39   Ngô Đức Hiên       sinh Ngô Đức Hợp, Ngô Đức Hải
39   Ngô Đức Thuỳ       sinh Ngô Thị  Linh, Ngô Thị …

40   Ngô Đức Nam       sinh Ngô Đức Hà, Ngô Thị  Thâm
40   Ngô Đức Tuân       sinh Ngô Đức Lý
40   Ngô Đức Anh
40  Ngô Đức Dũng      sinh Ngô Đức Nghiên


Họ Ngô- Thạch Mỹ  huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh
26   Câu Kê Hầu          không rõ huý,con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu
sinh Ngô Hữu Lộc.
27   Ngô Hữu Lộc        sinh Ngô Đắc Vỹ.
28   Ngô Đắc Vỹ          sinh Ngô Đắc Chương.
29   Ngô Đắc Chương  sinh Ngô Đắc Hành.
30   Ngô Đắc Hành       sinh Ngô Đắc Diêu, Ngô Đắc Xây.
31   Ngô Đắc Diêu        Thần tổ, có đền thờ.

31   Ngô Đắc Xây         sinh Ngô Đắc Châu, Ngô Đắc Tá .
32   Ngô Đắc Châu       Đến nay là tám đời.
32   Ngô Đắc Tá           Đến nay là bảy đời.

Đầu thế kỷ 20, gặp năm đói kém, trong vùng có trên 50 gia đình đi tha phương  cầu thực trong đó có gia đình ông Ngô Lợi đời thứ 34 đi qua vùng chợ Chế, vùng Đức Thọ, cuối cùng định cư làm ăn ở xóm Hưng Xá xã Phú Xá huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An.
34   Ngô Lợi                 sinh Ngô Soạn, Ngô Mậu.
35   Ngô Soạn               Cư trú thị  trấn Đức Thọ huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh.
35   Ngô Mậu                (1904-1980) Năm 1938-1945 bị thực dân bắt giam ở nhà tù Ban
Mê Thuột.  Năm 1951 làm Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh
Sau hòa bình làm Đại sứ ở Mông Cổ, Cu Ba .
Bà họ Mạc , sinh Ngô Thị  Hoài Lam (Ts),
Ngô Thị  Hồng Hạnh(ks),Ngô Đức Hùng, Ngô Phúc Cường (ks).
36   Ngô Đức Hùng      sinh Ngô Thị  Liên, Ngô Hồng Hải.

Họ Hà Linh, huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh
26   Ngô Đăng Khản   Có tên là Ngô Phúc Ngôn,con thứ Thế Quận công Ngô Cảnh
Hữu,lánh nạn đến đất Hà Linh dạy học,
Sinh:   Ngô Đăng Thiên,
Ngô Đăng Minh,
Ngô Đăng Bính.
27   Ngô Đăng Minh     Thái giám, Án Trung Hầu.Danh nhân lịch sử thế kỉ 16.
Năm Chính Hòa thứ 4 (1685)có công đi đánh Bồn Man ,
phong Án Trung Hầu,sau khi
chết dân làng Hà Linh lập đền thờ,triều Nguyễn sắc phong
Trung đẳng Tôn thần, ngôi đền nay tại xã Hà Linh huyện
Hương Khê đã được xếp hạng Di tích lịch sử Văn hoá.
27   Ngô Đăng Bính     Thiên cư nay thành Thủy Tổ họ Loan Dã (chợ Gia cùng huyện ).
27   Ngô Đăng Thiên    Bà Hà Thị  Hải sinh:
Ngô Đăng Đạt       nay là chi trưởng ở Hà Linh,
Ngô Đăng Triều     nay là chi ở chợ Nướt,
Ngô Đăng Thư       nay là chi Hà Linh II,
Ngô Đăng Đài       nay là chi Hà Linh III.

Cả họ ở phân tán nhiều nơi,chưa lập xong thế thứ,cư trú ở Trúc Lâm Hà Linh có 693 người gồm 383 nam và 310 nữ, có 6 Liệt sỹ.
Cư trú ở Ba Đồn huyện Quảng Trạch 53 người gồm 23 nam,30 nữ.
Cư trú vùng Đá Nện thượng lưu sông Gianh huyện Tuyên Hóa 76 người gồm 43 nam,33 nữ. Ngoài ra một số con cháu ở xã Hùng Trạch ,Sơn Trạch huyện Bố Trạch chưa rõ bao nhiêu.
Năm 1930-1931 có Ngô Lập, Ngô Thanh  tham gia Cách mạng bị tù đày.
Liệt sỹ qua hai cuộc kháng chiến :
Ngô Đăng Thanh,Ngô Đăng Tài,Ngô Đăng Thiều,Ngô Đăng Thuận,Ngô Đăng Hà,Ngô Đăng Thứ là con cháu ở Hà Linh;
Ngô Văn Mơ,Ngô Văn Thinh là con cháu ở huyện Quảng Trạch;
Ngô Đăng Lâm,Ngô Đăng Hạp và một người chưa rõ tên  liệt sỹ ở  ATK Hương Khê.

Họ Trần Vỵ Xuyên
huyện Mỹ Lộc thành phố Nam Định
26   Ngô Thuận Tâm  Con trai thứ Thế Quận công Ngô Cảnh Hựu,quê quán Cổ Bái,
sinh con trai Ngô Tất Thắng ra thừa tự ở hai ấp Vỵ Xuyên và
Cầu Gia, nguyên của Quỳnh Hoa và Quế Hoa hai Công chúa
và hai Mãnh tổ Ngô Chí Hoà,Ngô Chí Trung.
Mộ hai ông bà song táng ở đất Mộc tường cũ,nay thuộc xã
Thạch Ngọc,ở giữa Cổ Bái và Tự Cường,mộ hiện vẫn còn .
27   Ngô Tất Thắng       Tri huyện Lập Thạch, ông ra thừa tự hai vị Mãnh tổ Ngô Chí
Hoà, Ngô Chí Trung và hai bà cô Quỳnh Hoa Công chúa, Quế
Hoa Công chúa, có hai ấp phong ở Vị Xuyên và Cầu Gia thuộc
huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định, sinh Ngô Tất Thông.
28   Ngô Tất Thông      Viên ngoại lang, sinh Tất Đạt
29   Ngô Tất Đạt           hiệu Hoạt giám Tiên sinh, sinh Tất Đoan
30   Ngô Tất Đoan        Quang hiếu điện tự thừa tiến cống Thị  lang, sinh Trần Huy.

Phả cũ chú thích:”…Trong họ ta có ông Cống Sở, Vua sai ra dụ Tây Sơn.
Ông không dụ Tây Sơn, mà lại theo vua này, con cháu sợ liên luỵ, nên cải làm họ
Trần “.Như vậy có thể đổi họ khi Gia Long  lên làm vua cả nước.

31   Trần Xuân Huy      hiệu Diện Đạo Tiên ,sinh Xuân Dương, Xuân Sảng
32   Trần Xuân Sảng     sinh Trần Xuân Hinh
33   Trần Xuân Hinh     sinh Trần Xuân Hương
34   Trần Xuân Hương sinh Trần Xuân Quý
35   Trần Xuân Quý      sinh Trần Xuân Lộc
36   Trần Xuân Lộc       (mất 1958), sinh Trần Xuân Phong
37   Trần Xuân Phong   (ks) sinh một trai một gái

Ngô Tất Đoan có em trai không rõ tên, con cháu cũng đều đổi họ Trần, là chi 2
ông Xá Triện đời thứ 36.

Họ Tam Đa, xã Quang Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh

27   Vỵ Quận Công     (không rõ tên), con thứ Tứ Quận công Ngô Phúc Tịnh
và bà Lê Thị  Đệ .Bà là Quận chúa họ Trịnh.
Sinh hai con trai:
Ngô Phúc Diên -Diên Quận công,Thủy Tổ họ Tam Đa
nay ở xã Quang Lộc huyện  Can Lộc ,
Đề đốc Lý Quận công (thất truyền).
Dòng Diên Quận công phân chi  họ An Lộc và họ Yên Lai.

28   Ngô Phúc Diên      Diên Quận công,bà là Quận chúa họ Trịnh,sinh Ngô Phúc Cẩm,
Ngô Phúc Thuận, Ngô Phúc….
29   Ngô Phúc Cẩm      Thuận Lộc Hầu,Cấm y vệ Đô Chỉ huy sứ ty Đô Chỉ huy sứ,sinh
Ngô Phúc Lới,Ngô Phúc Tông.
29   Ngô Phúc Thuận    Phó trung uý Chân Lộc Hầu,bà Nguyễn Thị  Hành (phả cũ không
ghi con cháu).
29   Ngô Phúc…            Chánh Đội trưởng Tại bá Hầu,bà Nguyễn Thị  Sinh (không rõ
con cháu).

30   Ngô Phúc Lới        Tương truyền bà Nguyễn Thị  Chắt.
30   Ngô Phúc Tông      bà Nguyễn Thị  Hùng, sinh 8 trai 3 gái:
Ngô Phúc Bẩm ,chi trưởng;
Ngô Phúc Trọng bà Nguyễn Thị  Du (thất truyền);
Ngô Phúc Chúc bà Nguyễn Thị  Hiếu (thất truyền);
Ngô Phúc Lạng  Chi thứ hiện nay;
Ngô Phúc Uy bà Nguyễn Thị  Vương (thất truyền);
Ngô Phúc Hạo bà Nguyễn Thị  Thuý (thất truyền);
Ngô Phúc Tài  (mất sớm);
Ngô Khải (có truyền thuyết là thương gia ở Thăng Long ,có thể                                                             là nhầm,Ngô Khải phải là con Ngô Bẩm)
Ngô Thị … Ngô Thị ….Ngô Thị …..
       Trên đây là ghi chép theo phả họ Tam Đa . Ngô Khải là con Ngô Tông, em Ngô Bẩm,phả họ An Lộc lại ghi Ngô Khải là Thủy Tổ con Ngô Bẩm đời thứ 32. Nghiên cứu các bản phả các chi họ Tam Đa,An Lộc,Yên Lai,đối chiếu với bối cảnh lich sử  biến thiên đương Thời( Lê mạt,Tây Sơn,Nguyễn Gia Long  thay nhau làm chủ Bắc Hà), những người có tên ghi trong phả đều làm tướng giúp Lê Trịnh ,sa cơ theo  Vua Lê chúa
Trịnh.Khi đương làm quan làm tướng nói chung gia đình  đều thường trú ở Thăng Long,Đan Liên sau là Trảo Nha chỉ  là  quê hương .Sau khi  thất thủ Thăng Long,thay thấy đổi chủ, ngưòi thì tử trận,người thì  đi đâu không biết  nên thất truyền,những người quay về nguyên quán,mới bắt đầu tìm đất định cư để sinh sống,phát triển thành nhiều dòng họ ở  mọi nơi lâu ngày không đi lại với nhau thành ra mất liên lạc, như Tam Đa,Yên Lai,An Lộc v. v…Vì những Nguyên Nhân trên cho nên phả mỗi nơi ghi chép tuy có chổ giống nhau mà nhiều chi tiết lại khác nhau.

31   Ngô Phúc Bẩm      Bà Thân Thị  Tùng, sinh Ngô Phúc Tuân,Ngô Khải (họ An Lộc)
(Họ Thân ở vùng Văn Cử Tam Đa nay là xã Xuân Lộc và          
                                      Quang Lộc,nguyên là họ Giáp,triều Nguyễn kỵ huý bắt đổi họ ,
                                      các cụ trong họ bèn sửa chữ Giáp thành chữ Thân ( Viết cái sổ                  
                                     chữ Giáp thò đầu lên trên).
32   Ngô Phúc Tuân      Bà Thân Thị  Khuyên,
sinh Ngô Phúc Huyên, Ngô Phúc Đông (vô tự), Ngô Phúc Phổ.
33   Ngô Phúc Huyên   Ưu binh,bà Nguyễn Thị  Đường, sinh Ngô Phúc Chân.
34   Ngô Phúc Chân     bà Nguyễn Thị  Hương, sinh Ngô Đức Khôi, Ngô Đức Thương(phạp),
Ngô Đức Cương.
35   Ngô Đức Khôi       bà Nguyễn Thị  Cang ,sinh Ngô Đức Hoạch, Ngô Đức Phúc và 5 gái.
36   Ngô Đức Hoạch    bà Nguyễn Thị  Hoà, sinh Ngô Đức Nguyên,
Ngô Đức Tâm,Ngô Đức Lợi, Ngô Ngụ, Ngô Thị  Dưụ.
37 Ngô Đức Nguyên  bà Nguyễn Thị  Tý, sinh Ngô Đức  Hòa, Ngô Đức Binh,
 ơNgô Đức Bào, Ngô Thị  Tý, Ngô Thị  Thuý.
38   Ngô Đức Hoà        bà Nguyễn Thị  Ngự, sinh Ngô Lưu, Ngô Tập, Ngô Tuyên,
Ngô Chỉ, Ngô Thị  Hàng.

38   Ngô Đức Bình       bà Đặng Thị  Mùi, sinh Ngô Tùng, Ngô Toại, Ngô Tư,
Ngô Truyện.
38   Ngô Đức Bào        bà Trần Thị  Oanh, sinh Ngô Thị  Thảo, Ngô Thị  Hân,
Ngô Đức Biên.

37   Ngô Đức Tâm        bà Trần Thị  Lý, sinh Ngô Đức Song,Ngô Đức Oánh,
Ngô Phương, Ngô Thêm, Ngô Quy, Ngô Thị  Thuyết,
Ngô Thị  Mai.
38   Ngô Đức Song       bà Phan Thị  Oanh sinh Ngô Trà,T Ngô hị  Nhung, Ngô Phương.

38   Ngô Đức Oánh      sinh Ngô Đức Cao, Ngô Đức Đắc
37   Ngô Đức Lợi         sinh Ngô Đức Lam, Ngô Tiên, Ngô Thị  Thuỷ, Ngô Hoa, Ngô Thi
38   Ngô Đức Lam        sinh Ngô Đức Thao

36   Ngô Đức Phúc       con Ngô Đức Khôi
36   Ngô Đức Nhu        con Ngô Đức Cương
36   Ngô Đức Mỳ        con Ngô Đức Cương nt
36   Ngô Đức Minh      con Ngô Đức Khoát
36   Ngô Đức Nam       ( Liệt sỹ)

37   Ngô Đức Nghị       con Ngô  Đức Phú
37   Ngô Đức Huyền      con Ngô  Đức Phú
37   Ngô Đức Phấn       con Ngô Đức Nhu
37   Ngô Đức Thành     con Ngô Đức Mỳ
37   Ngô Đức Tường       (ls), con Ngô Đức Mỹ
37   Ngô Đức Hợp        con Ngô Đức Minh
37   Ngô Đức Hồng     con Ngô Đức Minh

38   Ngô Đức Thảo       con Ngô Đức Nghị
38   Ngô Đức Hùng      con Ngô Đức Phấn
38   Ngô Đức Dũng      con Ngô Đức Phấn
38   Ngô Đức Huệ       con Ngô Đức Phấn


31   Ngô Phúc Lạng      con Ngô Phúc Tổng,bà Thân Thị  Trường sinh Ngô Phúc Mạo.
32   Ngô Phúc Mạo       sinh Ngô Phúc Nhân, Ngô Phúc Thực, Ngô Phúc Lan,
Ngô Phúc Thuỵ.
33   Ngô Phúc Nhân     sinh Ngô Phúc Khoá, Ngô Phúc Khanh

34   Ngô Phúc Khoá     sinh Ngô Phúc Huệ, Ngô  Phúc Lan, Ngô Thị  Huê
35   Ngô Phúc Huệ       sinh Ngô Phúc Cục và 1 gái
36   Ngô Phúc Cục       sinh 5 trai 1 gái,con trai đầu vô tự.

35   Ngô Phúc Lan        sinh 3 trai 1 gái
36   Ngô Phúc Thắng    con Ngô Phúc Lan, sinh Ngô Tạo
37   Ngô Tạo                 sinh  Ngô Đức Viện, Ngô Đức Mười, Ngô Thị  Kiếm,
Ngô Thị  Khiên, Ngô Tiên, Ngô Thuỵ
38   Ngô Đức Viện       sinh Ngô Đức Nuôi , Ngô Thị  Cảnh
39   Ngô Đức Nuôi       sinh Ngô Đức Anh, Ngô Đức An.

38   Ngô Đức Mười      sinh Ngô Quyền, Ngô Nghĩa, Ngô Loan, Ngô Thị  Dần,
Ngô Mậu, Ngô Hân, Ngô Liên.

35   Ngô Đức Giới        sinh Ngô Đức Dòng và 1 gái
36   Ngô Đức Dòng      sinh Ngô Đức Cội và 6 gái
37   Ngô Đức Cội         sinh Ngô Đức Thụ, Ngô Đức  Mai, Ngô Đức Kỳ, Ngô Thị  Khương,
Ngô Quý, Ngô Sửu , Ngô Thược.

38   Ngô Đức Thụ         sinh Ngô Tập, Ngô Thị  Châu, Ngô Hồng, Ngô Lộc, Ngô Nhung
38   Ngô Đức Mai         sinh Ngô Cân, Ngô Cừ, Ngô Đức , Ngô Hanh, Ngô Thị  Nhâm,
Ngô Phúc
38   Ngô Đức Kỳ          sinh Ngô Sơn, Ngô Trường

37   Ngô Đức Tam        con ông Cục,sinh Ngô Đức Soàn, Ngô Đức Soạn, Ngô Đức Phiên,
Ngô Đức Tựu, Ngô Đức Hựu,Ngô Thị  Phúc,Ngô Thị  Tịnh
38   Ngô Đức Soàn       sinh Bích,Tý và 3 gái
38   Ngô Đức Soạn       sinh Ngô Đức Quát, Ngô Đức Nông, Ngô Thị  Hương, Ngô Hoa,
Ngô Thiều, Ngô Huyền
39   Ngô Đức Quát       sinh Ngô Đức Cương
39   Ngô Đức Nông      sinh Ngô Đức Trung

38   Ngô Đức Trung     sinh Ngô Cường , Ngô Quốc, Ngô Thị  Hồng, Ngô Hà,
Ngô Ngọc, Ngô Vĩnh
38   Ngô Đức Tựu        sinh Ngô Khanh, Ngô Thị  Bình
38   Ngô Đức Hựu         (Ls),sinh Ngô Cần, Ngô Thị  Kiệm


34   Ngô Phúc Khanh   sinh Ngô Phúc Trực, Ngô Phúc Tịnh,Ngô Phúc Minh,
Ngô Phúc  Luân
35   Ngô Phúc Luân      sinh Ngô Đức Phi, Ngô Đức Tài, Ngô Hoàn, Ngô Hai,
Ngô Ba, Ngô Yên
36   Ngô Đức Phi          sinh Ngô Đức Phiên, Ngô Đức Ninh, Ngô Đức Yên,
Ngô Danh Được
37   Ngô Đức Phiên      sinh Ngô Đức Khoan (Ls), Ngô Thị  Chất
37   Ngô Đức Yên        sinh Ngô Đức Nhâm
37   Ngô Danh Được    (con riêng bà Chọc) sinh Ngô Y, Ngô Cương, Ngô Thuần,
Ngô Cửu, Ngô Thập, Ngô Thị Tam, Ngô Thị  Tứ.
37   Ngô Đức Ninh       sinh Ngô Thị  Nguyện.

33   Ngô Phúc Thực      sinh Ngô Phúc Thìn.
34   Ngô Phúc Thìn       sinh Ngô Phúc Huân, Ngô Đức Đinh, Ngô Đức Thứ.
 35   Ngô Phúc Huân     sinh Ngô Thị  Đảng, Ngô Đức Đồ, Ngô Đức Chị , Ngô Đức Chu.
36   Ngô Đức Chu        sinh Ngô Đức Trịnh, Ngô Đức Thịnh.
 37   Ngô Đức Trịnh      sinh Ngô Đức Kinh.
38   Ngô Đức Kinh       sinh Ngô Đức Trạch, Ngô Đức Hải, Ngô Thị  Chất, Ngô Đức Đông,
Ngô Đức Đoài.
 37   Ngô Đức Thịnh      sinh Ngô Đức Soạn, Ngô Đức Sở, Ngô Đức  Dương, Ngô Đức Luân,
Ngô Thị  Hệ.
 38   Ngô Đức Sở          sinh Ngô Đức Long, Ngô Đức Sơn, Ngô Đức Hải, Ngô Thị  Luyến,
Ngô Đức Duyên, Ngô Đức Phương
38   Ngô Đức Dương   (Ls),sinh Ngô Đức Dám
38   Ngô Đức Luân       sinh Ngô Thị  Thanh, Ngô Đức Hà

35   Ngô Đức Đinh       sinh Ngô Đức Thống, Ngô Đức Liên, Ngô Đức Kềm
36   Ngô Đức Thống     sinh Ngô Đức Lương, Ngô Đức Gia, Ngô Thị  Tùng
37   Ngô Đức Lương    sinh Ngô Đức Yêm, Ngô Đức Thiêm, Ngô Đức Tuấn

38   Ngô Đức Yêm       sinh Ngô Đức Chương, Ngô Đức Phương, Ngô Thị  Biên,
Ngô Lương, Ngô Loan
38   Ngô Đức Thiêm     sinh Ngô Đức Luật, Ngô Đức Nhật, Ngô Vinh Quang và hai gái
38   Ngô Đức Tuấn       sinh Ngô Khanh, Ngô Linh

36   Ngô Đức Liên        sinh Ngô Đức Sen
37   Ngô Đức Sen         sinh Ngô Đức Thuý và hai gái
38   Ngô Đức Thuý       sinh Ngô Đức Chiến

36   Ngô Đức Kềm       sinh Ngô Đức Bằng, Ngô Bạn, Ngô Thị  Hựu
37   Ngô Đức Bằng      sinh Ngô Đức Khai (Ls)

35   Ngô Đức Thứ        sinh Ngô Thị  Ngu, Ngô Thị  Tu, Ngô Thị  Tân

33   Ngô Phúc Thuỵ      sinh Ngô Phúc Gia, Ngô Phúc Dương
34   Ngô Phúc Gia        sinh Ngô Phúc Sở
34   Ngô Phúc Dương  nuôi con nuôi Ngô Phúc Diêu
35   Ngô Phúc Diêu      sinh Ngô Đức Bối
36   Ngô Đức Bối         không con, nuôi con nuôi Ngô Đức Phụ
37   Ngô Đức Phụ         bà Nguyễn Thị  Thương, sinh Ngô Đức Liệu, Ngô Đức Sỹ,
Ngô Thị  Diêu, Ngô Thị  Sâm.

Chi họ Ngô An Lộc ( xưa là làng Lộc Nguyền ),huyện  Can Lộc,tỉnh Hà Tĩnh
                                                          
32   Ngô Khải              con thứ Ngô Phúc Bẩm thiên cư về An Lộc cùng huyện ,
Hai bà Nguyễn Thị  Bốn, Nguyễn Thị  Phi.
32   Ngô Rựa                em Ngô Khải, bà Nguyễn Thị  Hoà.
33   Có các ông sau đây, phả cũ không phân biệt người nào con ông nào:
Ngô Huyền            bà Nguyễn Thị  Tôn
Ngô Thân               bà Nguyễn Thị  Nụ
Ngô Khê                bà Nguyễn Thị  Bài
Ngô Nhân              bà Nguyễn Thị  Hinh
Ngô Yến                bà Phạm Thị  Mơn
Ngô Đình               bà Từ Thị  Nắng
34   Ngô Tiên                bà Hoàng Thị  Thế
Ngô Lâm                bà Nguyễn Thị  Bạch, Nguyễn Thị  Thái
Ngô Tiềm               Thần sách quân Tiền dinh, Phấn vũ vệ Chánh Đội trưởng( thất
truyền).Thần sách quân là tên hiệu 1 đội quân ở tỉnh Nghệ
An, dưới triều Nguyễn Minh Mạng).
35   Ngô Ba
Ngô Liêu
Ngô Tài
Ngô Thiền
Ngô Giáp
Ngô Bính
Ngô Xoạn
Ngô Lan
Ngô Tiểu
Ngô Trực               (Cả mấy người đời 35 trên đều thất truyền).
36   Ngô Huy                bà Nguyễn Thị  Lan
Ngô Ngật               bà Phan Thị  Khiết
Ngô Phi                  bà Đặng Thị  Mộc
Ngô Thông             bà Nguyễn Thị  Hải
Ngô Hớn                Thập lý Hầu (thất truyền)
Ngô Hoà                Bà  Nguyễn Thị  Tới
Ngô Xe                  bà Nguyễn Thị  Nê
Ngô Lạch               bà Nguyễn Thị  Hải
Ngô Anh                bà Nguyễn Thị  Việt.
37   Ngô Chúc              bà Trần Thị  Xoan
Ngô Sừng              con Ngô Hộ
Ngô Trúc                nt
Ngô Trạch              nt
Ngô Rộng              nt
38   Ngô Hoán
38   Ngô Hoàn              bà Nguyễn Thị  Tiêu
39   Ngô Bản                bà Nguyễn Thị  Bé
40   Ngô Quy                bà Nguyễn Thị  Hiền, sinh Thị  Long,Ngô Ánh
Ngô Thuỷ               bà Hồ Thị  Xinh, sinh Thị  Lưu,Thị  Ý,Ngô Thắng,Thúc,Tỉnh
Ngô Dương           bà Trần Thị  An ,sinh Tuấn,Tái,Khương, Thị  Lan,Thị  Phương
39   Ngô Viêng             bà Nguyễn Thị  Bình, sinh Đức Vọng,Thị  Quy, Kiên,Tờ,Tâm
40   Ngô Đức Vọng      bà Nguyễn Thị  Huệ, sinh Văn,Vũ,Thị  Tuyết
38   Ngô Hoạch            bà Nguyễn Thị  Am, sinh Trương,Toàn
39   Ngô Trương           bà Nguyễn Thị  Tương, sinh Ngô Thanh,Thị  Huệ
40   Ngô Thanh             bà Nguyễn Thị  Hằng ,sinh Ngô Hoàng
39   Ngô Toàn               bà Nguyễn Thị  Bài sinh Sách,Luân,Nhương,Giới,Thuỷ,
Thị  Luân,Tảo,Thanh
40   Ngô Sách               bà Nguyễn Thị  Xương, sinh Ngô Thuận,Thị  Tuyệt,Tuyết, Loan
Ngô Luân               bà Nguyễn Thị  Hương, sinh Thị  Nguyệt,Ngô Lý,Ngô Lương
Ngô Nhương         bà Nguyễn Thị  Hà, sinh Ngô Tuấn,Ngô Duyên,Thị  Phương
Ngô Giới                bà Nguyễn Thị  Thân, sinh Tình,Nam,Thị  Bắc
Ngô Thuỷ               bà Trần Thị  Xuân
37   Ngô Rộng              bà Tạ Thị  Oanh, sinh Tròn,Tương,Tài,Vịnh,Thị  Huấn
38   Ngô Tròn               bà Đặng Thị  Nhị, sinh Xơng,Cương,Luyện,Thị  Tính,Biêng
39   Ngô Xơng              bà Nguyễn Thị  Quy, sinh Tăng,Thị  Xứng,Lý
40   Ngô Tăng               bà Nguyễn Thị  Thanh, sinh Nam,Hải,Thị  Lân
39   Ngô Cương            bà Nguyễn Thị  Sanh, sinh Cảnh,Quân
39   Ngô Luyện             bà Trần Thị  Hạ, sinh Lân,Lập,Thị  Tuyên, Thanh
39   Ngô Biêng             sinh Ngượng ,Thương,Thị  Trông, Thấy
40   Ngô Ngượng         bà Nguyễn Thị  Tăng sinh Hà,nội,Thị  Nguyệt,Thanh
40   Ngô Thương          bà Nguyễn Thị  Tiêm,Vũ Thị  Tư,sinh Ngô Nhật và 3 gái.
Phái III
33   Ngô Ánh                bà Trần Thị  Nghiêm, sinh Ngô Duyệt
34   Ngô Duyệt             bà Lê Thị  Duy, sinh Ngô Đức
35   Ngô Đức                sinh Ngô Yên
36   Ngô Yên                bà Phan Thị  Dinh, sinh Ngô Xân
37   Ngô Xân                bà Phan Thị  Tá, sinh Phùng,Rậm
38   Ngô Phùng             bà Phan Thị  Nhiên, sinh Nghinh, Đinh,Thị  Khá
39   Ngô Đinh               bà Nguyễn Thị  Văng,sinh Ngô Vĩnh,Thị  Hưng
40   Ngô Vĩnh               bà Trần Thị  Thanh và Phan Thị  Biêng sinh Minh,Công,Quang
39   Ngô Nghinh           bà Trần Thị  Phiên sinh Thị  Trung,Văn Phác.
Phái IV
33   Ngô Nhã                sinh Ngô Rừng
34   Ngô Rừng              bà Nguyễn Thị  Ngật, sinh Ngô Reo
35   Ngô Reo                bà Nguyễn Thị  Liêm, sinh Ngô Tích
36   Ngô Tích                bà Nguyễn Thị  Được, sinh Thân,Thuý,Luyện
37   Ngô Thân               bà Thị  Nô,Thị  Thực sinh Ngô Tộ
37   Ngô Thuý               ba bà sinh Ngô  Hoát,Ngô Khuân,Thị  Nhơ
38   Ngô Tộ                   bà Nguyễn Thị  Thiu, sinh Ngô Tiêu
39   Ngô Tiêu                bà Nguyễn Thị  Soa, sinh Thị  Khương,Thị  Nhưng,Ngô Tương,
Ngô Thắng,Ngô Minh
38   Ngô Hoát               sinh Nguỵ,Tuyn, Huyn,Ngưu
39   Ngô Nguỵ              bà Lưu Thị  Thoan, sinh Ngô Trọn,Thị  Ngoéc,Thiu,Phiên
40   Ngô Trọn               bà Nguyễn Thị  Vinh, sinh Ngô Thái,Thị  Vinh
41   Ngô Thái                bà Nguyễn Thị  Nhuỵ, sinh Thuận,Luân,Thị  Xoan
42   Ngô Thuận             bà Nguyễn Thị  Tăng, sinh Ngô Duẫn.