Xem Phong thủy-Tử vi ở Hà Nội

NHẬN TƯ VẤN: Xem phong thủy Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng:Chọn hướng tốt. Phòng làm việc; phòng khách; bếp; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Xem tuổi Xây dựng nhà , sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Âm trạch mồ mả tư vấn xem hướng đặt mộ hợp phong thủy, tư vấn đặt mộ trong nghĩa trang. Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới,ngày ăn hỏi. Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.Xem Tử vi để biết vận mệnh cuộc đời; dự báo ngày cưới; dự báo tang ma; dự báo công danh, sự nghiệp, thăng quan, tiến chức.Các đại, tiểu vận trong cuộc đời...Điện thoại: 036.439.6238


Thứ Hai, 4 tháng 3, 2019

Thước Lỗ Ban dùng cho Dương trạch và Âm trạch

Ông Lỗ Ban 



A/THƯỚC DÙNG CHO DƯƠNG TRẠCH
Thước 429mm  (Trên thước cuộn 5m)
-         Dùng cho Dương trạch: để đo nhà, cổng, cửa, bàn ghế và đồ gia dụng.
-         Ghi trên hàng thứ 2 (từ trên xuống) của thước 5m
-         Các chữ in đậm là cung tốt, tương đương các cung có chữ đỏ trên thước Lỗ Ban.
-         Sau đây là 11 thước Lỗ Ban, dài 4719mm. Nếu cần đo kích thước dài hơn thì tiếp tục đo từ đầu thước 5m, tính là Thước Lỗ Ban thứ 12.
Kích thước
Tên cung
Ý nghĩa
Thước thứ 1
0-13
Tài đức
có tài có đức
13-24
Bảo khố
Kho báu
24-29
Tài
Tiền của
29-41
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
41-54
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
54-66
Thoái tài
Mất tiền của
66-78
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
78-83
Bệnh
Bện tật
83-95
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
95-108
Cô quả
Thân cô
108-102
Trường khốn
Vất vả nhiều
102-132
Kiếp tài
Mất tiền của
132-137
Ly
Ly tán
137-149
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
149-161
Thất thoát
Mất mát
161-173
Thêm đinh
có thêm con trai
173-184
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
184-189
Nghĩa
Nhân nghĩa
189-202
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
202-215
Đại cát
May lớn, Tốt lành
215-227
Thuận khoa
Thi đỗ
227-239
Hoành tài
Phát tài
239-244
Quan
Thăng quan
244-256
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
256-268
Phú quý
Giàu sang
268-281
Tử biệt
Chết chóc
281-292
Thoái khẩu
Vạ miệng
292-297
Kiếp
Kiếp nạn
297-309
Ly hương
Bỏ quê hương
309-322
Tài thất
Mất của, mất chức
322-334
Tai chí
Gặp tai họa
334-346
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
346-351
Hại
Thiệt hại
351-363
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
363-376
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
376-388
Tài chí
Tiền của đến
388-400
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
400-405
Bản
Có cơ bản
405-417
Tiến bảo
Được của quý
417-429
Hưng vượng
Thịnh vượng
Thước thứ 2
429-442
Tài đức
có tài có đức
442-453
Bảo khố
Kho báu
453-458
Tài
Tiền của
458-471
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
471-483
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
483-495
Thoái tài
Mất tiền của
495-508
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
508-512
Bệnh
Bện tật
512-524
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
524-537
Cô quả
Thân cô
537-549
Trường khốn
Vất vả nhiều
549-461
Kiếp tài
Mất tiền của
461-565
Ly
Ly tán
565-577
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
577-590
Thất thoát
Mất mát
590-602
Thêm đinh
có thêm con trai
602-614
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
614-619
Nghĩa
Nhân nghĩa
619-631
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
631-644
Đại cát
May lớn, Tốt lành
644-656
Thuận khoa
Thi đỗ
656-668
Hoành tài
Phát tài
668-673
Quan
Thăng quan
673-685
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
685-697
Phú quý
Giàu sang
697-710
Tử biệt
Chết chóc
710-722
Thoái khẩu
Vạ miệng
722-726
Kiếp
Kiếp nạn
726-739
Ly hương
Bỏ quê hương
739-751
Tài thất
Mất của, mất chức
751-764
Tai chí
Gặp tai họa
764-775
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
775-779
Hại
Thiệt hại
779-792
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
792-804
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
804-817
Tài chí
Tiền của đến
817-829
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
829-834
Bản
Có cơ bản
834-846
Tiến bảo
Được của quý
846-858
Hưng vượng
Thịnh vượng
Thước thứ 3
858-870
Tài đức
có tài có đức
870-882
Bảo khố
Kho báu
882-887
Tài
Tiền của
887-900
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
900-912
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
912-924
Thoái tài
Mất tiền của
924-936
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
936-941
Bệnh
Bện tật
941-953
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
953-966
Cô quả
Thân cô
966-978
Trường khốn
Vất vả nhiều
978-990
Kiếp tài
Mất tiền của
990-995
Ly
Ly tán
995-1007
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
1007-1019
Thất thoát
Mất mát
1019-1032
Thêm đinh
có thêm con trai
1032-1043
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
1043-1048
Nghĩa
Nhân nghĩa
1048-1060
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
1060-1073
Đại cát
May lớn, Tốt lành
1073-1085
Thuận khoa
Thi đỗ
1085-1098
Hoành tài
Phát tài
1098-1103
Quan
Thăng quan
1103-1114
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
1114-1127
Phú quý
Giàu sang
1027-1139
Tử biệt
Chết chóc
1139-1151
Thoái khẩu
Vạ miệng
1151-1155
Kiếp
Kiếp nạn
1155-1168
Ly hương
Bỏ quê hương
1168-1180
Tài thất
Mất của, mất chức
1180-1193
Tai chí
Gặp tai họa
1193-1205
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
1205-1210
Hại
Thiệt hại
1210-1222
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
1222-1234
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
1234-1246
Tài chí
Tiền của đến
1246-1259
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
1259-1263
Bản
Có cơ bản
1263-1275
Tiến bảo
Được của quý
1275-1288
Hưng vượng
Thịnh vượng
Thước thứ 4
1288-1300
Tài đức
có tài có đức
1300-1312
Bảo khố
Kho báu
1312-1317
Tài
Tiền của
1317-1329
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
1329-1341
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
1341-1354
Thoái tài
Mất tiền của
1354-1365
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
1365-1370
Bệnh
Bện tật
1370-1382
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
1382-1394
Cô quả
Thân cô
1394-1407
Trường khốn
Vất vả nhiều
1407-1419
Kiếp tài
Mất tiền của
1419-1424
Ly
Ly tán
1424-1436
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
1436-1449
Thất thoát
Mất mát
1449-1461
Thêm đinh
có thêm con trai
1461-1472
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
1472-1477
Nghĩa
Nhân nghĩa
1477-1490
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
1490-1502
Đại cát
May lớn, Tốt lành
1502-1515
Thuận khoa
Thi đỗ
1515-1527
Hoành tài
Phát tài
1527-1531
Quan
Thăng quan
1531-1543
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
1543-1556
Phú quý
Giàu sang
1556-1568
Tử biệt
Chết chóc
1568-1580
Thoái khẩu
Vạ miệng
1580-1585
Kiếp
Kiếp nạn
1585-1598
Ly hương
Bỏ quê hương
1598-1610
Tài thất
Mất của, mất chức
1610-1622
Tai chí
Gặp tai họa
1622-1634
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
1634-1638
Hại
Thiệt hại
1638-1650
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
1650-1663
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
1663-1676
Tài chí
Tiền của đến
1676-1688
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
1688-1693
Bản
Có cơ bản
1693-1704
Tiến bảo
Được của quý
1704-1716
Hưng vượng
Thịnh vượng
Thước thứ 5
1716-1729
Tài đức
có tài có đức
1729-1740
Bảo khố
Kho báu
1740-1745
Tài
Tiền của
1745-1758
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
1758-1770
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
1770-1783
Thoái tài
Mất tiền của
1783-1795
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
1795-1799
Bệnh
Bện tật
1799-1812
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
1812-1824
Cô quả
Thân cô
1824-1837
Trường khốn
Vất vả nhiều
1837-1849
Kiếp tài
Mất tiền của
1849-1853
Ly
Ly tán
1853-1866
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
1866-1878
Thất thoát
Mất mát
1878-1890
Thêm đinh
có thêm con trai
1890-1902
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
1902-1907
Nghĩa
Nhân nghĩa
1907-1918
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
1918-1931
Đại cát
May lớn, Tốt lành
1931-1944
Thuận khoa
Thi đỗ
1944-1956
Hoành tài
Phát tài
1956-1961
Quan
Thăng quan
1961-1972
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
1972-1985
Phú quý
Giàu sang
1985-1997
Tử biệt
Chết chóc
1997-2009
Thoái khẩu
Vạ miệng
2009-2014
Kiếp
Kiếp nạn
2014-2026
Ly hương
Bỏ quê hương
2026-2038
Tài thất
Mất của, mất chức
2038-2051
Tai chí
Gặp tai họa
2051-2063
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
2063-2067
Hại
Thiệt hại
2067-2079
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
2079-2092
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
2092-2105
Tài chí
Tiền của đến
2105-2117
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
2117-2122
Bản
Có cơ bản
2122-2133
Tiến bảo
Được của quý
2133-2145
Hưng vượng
Thịnh vượng
Thước thứ 6
2045-2158
Tài đức
có tài có đức
2158-2170
Bảo khố
Kho báu
2170-2175
Tài
Tiền của
2175-2187
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
2187-2199
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
2199-2212
Thoái tài
Mất tiền của
2212-2224
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
2224-2228
Bệnh
Bện tật
2228-2240
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
2240-2253
Cô quả
Thân cô
2253-2263
Trường khốn
Vất vả nhiều
2263-2277
Kiếp tài
Mất tiền của
2277-2282
Ly
Ly tán
2282-2294
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
2294-2306
Thất thoát
Mất mát
2306-2319
Thêm đinh
có thêm con trai
2319-2331
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
2331-2336
Nghĩa
Nhân nghĩa
2336-2348
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
2348-2360
Đại cát
May lớn, Tốt lành
2360-2373
Thuận khoa
Thi đỗ
2373-2385
Hoành tài
Phát tài
2385-2389
Quan
Thăng quan
2389-2401
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
2401-2414
Phú quý
Giàu sang
2414-2426
Tử biệt
Chết chóc
2426-2439
Thoái khẩu
Vạ miệng
2439-2444
Kiếp
Kiếp nạn
2444-2456
Ly hương
Bỏ quê hương
2456-2468
Tài thất
Mất của, mất chức
2468-2480
Tai chí
Gặp tai họa
2480-2492
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
2492-2497
Hại
Thiệt hại
2497-2509
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
2509-2521
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
251-2534
Tài chí
Tiền của đến
2534-2545
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
2545-2548
Bản
Có cơ bản
2548-2563
Tiến bảo
Được của quý
Thước thứ 7
2563-2574
Hưng vượng
Thịnh vượng
2574-2587
Tài đức
có tài có đức
2587-2599
Bảo khố
Kho báu
2599-2604
Tài
Tiền của
2604-2616
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
2616-2629
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
2629-2641
Thoái tài
Mất tiền của
2641-2653
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
2653-2658
Bệnh
Bện tật
2658-2669
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
2669-2682
Cô quả
Thân cô
2682-2694
Trường khốn
Vất vả nhiều
2694-2706
Kiếp tài
Mất tiền của
2706-2711
Ly
Ly tán
2711-2724
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
2724-2736
Thất thoát
Mất mát
2736-2748
Thêm đinh
có thêm con trai
2748-2760
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
2760-2765
Nghĩa
Nhân nghĩa
2765-2777
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
2777-2789
Đại cát
May lớn, Tốt lành
2789-2802
Thuận khoa
Thi đỗ
2802-2815
Hoành tài
Phát tài
2815-2820
Quan
Thăng quan
2820-2830
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
2830-2843
Phú quý
Giàu sang
2843-2855
Tử biệt
Chết chóc
2855-2868
Thoái khẩu
Vạ miệng
2868-2873
Kiếp
Kiếp nạn
2873-2885
Ly hương
Bỏ quê hương
2885-2897
Tài thất
Mất của, mất chức
2897-2909
Tai chí
Gặp tai họa
2909-2921
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
2921-2926
Hại
Thiệt hại
2926-2938
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
2938-2950
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
2950-2963
Tài chí
Tiền của đến
2963-2974
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
2974-2979
Bản
Có cơ bản
2979-2992
Tiến bảo
Được của quý
2992-3004
Hưng vượng
Thịnh vượng
Thước thứ 8
3004-3016
Tài đức
có tài có đức
3016-3028
Bảo khố
Kho báu
3028-3033
Tài
Tiền của
3033-3045
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
3045-3058
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
3058-3070
Thoái tài
Mất tiền của
3070-3082
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
3082-3087
Bệnh
Bện tật
3087-3099
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
3099-3111
Cô quả
Thân cô
3111-3123
Trường khốn
Vất vả nhiều
3123-3135
Kiếp tài
Mất tiền của
3135-3140
Ly
Ly tán
3140-3152
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
3152-3165
Thất thoát
Mất mát
3165-3177
Thêm đinh
có thêm con trai
3177-3189
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
3189-3194
Nghĩa
Nhân nghĩa
3194-3205
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
3205-3218
Đại cát
May lớn, Tốt lành
3218-3230
Thuận khoa
Thi đỗ
3230-3243
Hoành tài
Phát tài
3243-3248
Quan
Thăng quan
3248-3259
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
3259-3272
Phú quý
Giàu sang
3272-3284
Tử biệt
Chết chóc
3284-3296
Thoái khẩu
Vạ miệng
3296-3301
Kiếp
Kiếp nạn
3301-3314
Ly hương
Bỏ quê hương
3314-3326
Tài thất
Mất của, mất chức
3326-3338
Tai chí
Gặp tai họa
3338-3350
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
3350-3355
Hại
Thiệt hại
3355-3367
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
3367-3379
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
3379-3392
Tài chí
Tiền của đến
3392-3404
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
3404-3409
Bản
Có cơ bản
3409-3421
Tiến bảo
Được của quý
3421-3432
Hưng vượng
Thịnh vượng
Thước thứ 9
3432-3445
Tài đức
có tài có đức
3445-3458
Bảo khố
Kho báu
3458-3463
Tài
Tiền của
3463-3474
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
3474-3487
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
3487-3499
Thoái tài
Mất tiền của
3499-3511
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
3511-3516
Bệnh
Bện tật
3516-3528
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
3528-3540
Cô quả
Thân cô
3540-3552
Trường khốn
Vất vả nhiều
3552-3564
Kiếp tài
Mất tiền của
3564-3569
Ly
Ly tán
3569-3581
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
3581-3594
Thất thoát
Mất mát
3594-3606
Thêm đinh
có thêm con trai
3606-3619
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
3619-3624
Nghĩa
Nhân nghĩa
3624-3635
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
3635-3647
Đại cát
May lớn, Tốt lành
3647-3660
Thuận khoa
Thi đỗ
3660-3672
Hoành tài
Phát tài
3672-3677
Quan
Thăng quan
3677-3689
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
3689-3701
Phú quý
Giàu sang
3701-3713
Tử biệt
Chết chóc
3713-3725
Thoái khẩu
Vạ miệng
3725-3730
Kiếp
Kiếp nạn
3730-3742
Ly hương
Bỏ quê hương
3742-3754
Tài thất
Mất của, mất chức
3754-3767
Tai chí
Gặp tai họa
3767-3779
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
3779-3784
Hại
Thiệt hại
3784-3796
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
3796-3809
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
3809-3820
Tài chí
Tiền của đến
3820-3833
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
3833-3838
Bản
Có cơ bản
3838-3850
Tiến bảo
Được của quý
3850-3861
Hưng vượng
Thịnh vượng
Thước thứ 10
3861-3874
Tài đức
có tài có đức
3874-3886
Bảo khố
Kho báu
3886-3891
Tài
Tiền của
3891-3903
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
3903-3915
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
3915-3928
Thoái tài
Mất tiền của
3928-3939
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
3939-3944
Bệnh
Bện tật
3944-3957
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
3957-3968
Cô quả
Thân cô
3968-3981
Trường khốn
Vất vả nhiều
3981-3993
Kiếp tài
Mất tiền của
3993-3998
Ly
Ly tán
3998-4010
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
4010-4023
Thất thoát
Mất mát
4023-4035
Thêm đinh
có thêm con trai
4035-4047
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
4047-4052
Nghĩa
Nhân nghĩa
4052-4064
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
4064-4078
Đại cát
May lớn, Tốt lành
4078-4089
Thuận khoa
Thi đỗ
4089-4101
Hoành tài
Phát tài
4101-4106
Quan
Thăng quan
4106-4118
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
4118-4130
Phú quý
Giàu sang
4130-4142
Tử biệt
Chết chóc
4142-4154
Thoái khẩu
Vạ miệng
4154-4159
Kiếp
Kiếp nạn
4159-4171
Ly hương
Bỏ quê hương
4171-4184
Tài thất
Mất của, mất chức
4184-4196
Tai chí
Gặp tai họa
4196-4208
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
4208-4213
Hại
Thiệt hại
4213-4226
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
4226-4237
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
4237-4249
Tài chí
Tiền của đến
4249-4261
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
4261-4266
Bản
Có cơ bản
4266-4278
Tiến bảo
Được của quý
4278-4290
Hưng vượng
Thịnh vượng
Thước thứ 11
4290-4303
Tài đức
có tài có đức
4303-4315
Bảo khố
Kho báu
4315-4320
Tài
Tiền của
4320-4332
Lục hợp
Hòa thuận vui vẻ
4332-4244
Nghênh phúc
Đón hồng phúc
4344-4357
Thoái tài
Mất tiền của
4357-4369
Công sự
Kiện tụng, ra tòa
4369-4374
Bệnh
Bện tật
4374-4385
Lao chấp
Lao tâm, buồn bực
4385-4398
Cô quả
Thân cô
4398-4410
Trường khốn
Vất vả nhiều
4410-4422
Kiếp tài
Mất tiền của
4422-4427
Ly
Ly tán
4427-4439
Quan quỷ
Gặp mà quỷ
4439-4451
Thất thoát
Mất mát
4451-4464
Thêm đinh
có thêm con trai
4464-4475
Ích lợi
Lời lãi phát đạt
4475-4480
Nghĩa
Nhân nghĩa
4480-4492
Quý tử
Con cháu ngoan giỏi
4492-4505
Đại cát
May lớn, Tốt lành
4505-4518
Thuận khoa
Thi đỗ
4518-4529
Hoành tài
Phát tài
4529-4534
Quan
Thăng quan
4534-4546
Tiến tích
Làm ăn tiến tới
4546-4559
Phú quý
Giàu sang
4559-4572
Tử biệt
Chết chóc
4572-4583
Thoái khẩu
Vạ miệng
4583-4588
Kiếp
Kiếp nạn
4588-4600
Ly hương
Bỏ quê hương
4600-4613
Tài thất
Mất của, mất chức
4613-4625
Tai chí
Gặp tai họa
4625-4637
Tử tuyệt
Lụn bại, tuyệt tự
4637-4642
Hại
Thiệt hại
4642-4654
Bệnh lâm
Bị bệnh, bị nạn
4654-4666
Khẩu thiệt
Thị phi, kiện cáo
4666-4679
Tài chí
Tiền của đến
4679-4690
Đăng khoa
Đỗ đạt, thăng cấp
4690-4695
Bản
Có cơ bản
4695-4708
Tiến bảo
Được của quý
4708-4719
Hưng vượng
Thịnh vượng


B/THƯỚC DÙNG CHO ÂM TRẠCH

Thước 390mm
·        Dùng cho Âm trjach: để đo mồ mả, bàn thờ, đồ thờ cúng.
·        Ghi trên hàng thứ 3 (từ trên xuống) của thước 5mm.
·        Các chức in đậm là cung tốt, tương đường của các cung có chữ đỏ trên thước Lỗ Ban.
·         .....
(Ngô Lê Lợi-Nghiên cứu Huyền học)



Thứ Hai, 25 tháng 2, 2019

Đầu xuân đi Thập tự chùa

Thầy Thích Thiện Tài Trụ trì chùa Bảo Quang dẫn Đoàn phật tử hành hương Thập tự chùa

Hàng năm Thầy Thích Thiện Tài trụ trì chùa Bảo Quang hẻm 45 đường Nguyễn Văn Đậu phường 6 quân Bình Thạnh TP Hồ Chí  tổ chức cho phật tử hành hương thập tự là chương trình hoạt động nằm trong khuôn khổ các chuỗi hoạt động Phật sự của Nhà chùa (năm nay nhà chùa còn phối hợp các chùa: Thầy  Thích Phước Hiền trụ trì chùa Chưởng Đức đường  Nguyễn Thượng Hiền và Thầy Thích Minh Không trụ trì chùa Long Châu ) tổ chức cho phật tử hành hương  10 chùa từ  Bình Dương, Đồng Nai và Vũng Tàu. Đoàn phật tử  đã chiêm bái các tự viện, tu viện, Thiền viện, các di tích lịch sử văn hóa  trong các tỉnh thành lân cận từ Bình Dương đến Vũng Tàu, và được thay đổi các lộ trình đi hằng năm.

Theo đó, với mục đích xây dựng một đời sống tâm linh hướng thiện, hướng thượng cho Phật tử và cũng tạo duyên lành, phước báo đầu năm mới cho Phật tử gieo trồng công đức trong việc cúng dường lên Tam Bảo.

Xếp xe cho  phật tử lên ô tô từ 5 giờ sáng để 5 giờ 30 xuất phát


Đoàn đã đi chiêm bái các ngôi chùa như:

1/  Chùa Bình Đông
Trước khi lập chùa là một ngôi thảo am; Đến năm 1908, Cư sĩ Nguyễn văn Lợi cùng dân làng trùng tu lại ngôi thảo am, cải am thành tự, đặt tên là chùa Bình Đông và trở thành vị trụ trì đầu tiên của chùa. Trong thời gian hành đạo và trụ trì chùa Bình Đông, thầy Lợi đến cầu pháp với Hòa thượng Chương Phụng (trụ trì đời thứ 3 của chùa Thiên Tân ở An Thạnh). Không ai nhớ rõ năm viên tịch của thầy Lợi lẫn pháp danh của Ngài mà chỉ biết rằng Ngài viên tịch vào ngày 09-01 AL; chùa Bình Đông không có trụ trì chính thức nên Hòa thượng Chương Phụng đã cử một đệ tử của Ngài là Yết ma Giác Thiện đến kế thế trụ trì. Sau khi Ngài Giác Thiện viên tịch, có 2 Thiền sư của chùa Phước Tưởng đến chùa Bình Đông hành đạo là Ngài Ấn Sự và Ngài Ấn Khải. Một thời gian sau, Yết ma Giác Viên là đệ tử của Thiền sư Ấn Sự đến trụ trì và viên tịch vào ngày 05-08 ÂL năm 1952.
Do tình hình chiến sự, chùa bị hư hại nên bị bỏ hoang đến năm 1956. Năm đó, dân làng địa phương đã cung thỉnh Hòa thượng Giác Đức về trụ trì. Thầy Giác Đức thuộc thế hệ thứ 44 dòng Lâm Tế Liễu Quán, là một bậc chân tu có tinh thần yêu nước và trong thời gian trụ trì tại chùa Bình Đông, Ngài đã tham gia hoạt động Cách mạng với các Hòa thượng Thiện Hào, Trí Hưng, Giác Ngọc …

Trước khi về chùa Bình Đông, do bị mật thám Pháp theo dõi, thầy Giác Đức và thầy Trí Hưng đã phải bí mật di chuyển sang Xiêm Rệp (Campuchia) cất chùa, làm thuốc trị bệnh cho bộ đội. Sau đó, Ngài về di tíchchùa Trác Quan (Gò Công) thế nhưng chỉ một thời gian ngắn sau do bị truy lùng, Ngài lại về chùa Phụng Sơn (TP.HCM) ẩn tu với Hòa thượng Phước Quang đến năm 1956. Sau khi chính thức về trụ trì chùa Bình Đông, thầy Giác Đức đã cho trùng tu lại và hành đạo cho đến năm 1978. Năm đó, do Ngài được thỉnh về Tổ Đình Phước Lâm (Tây Ninh) trụ trì nên giao quyền trụ trì chùa Bình Đông lại cho Đại đức Thích Trí Thiện (thế danh Nguyễn văn Đông) là đệ tử của Ngài và viên tịch năm 1985. Sinh năm 1951 trong một gia đình lao động tại tỉnh Tây Ninh, năm 9 tuổi, Thầy Trí Thiện xuất gia tại chùa Thiên Bửu (huyện Thuận An) và thọ Tỳ kheo năm 1992 tại chùa Hội Khánh.



Tọa lạc trên một khu đất rộng 1800m2, chùa Bình Đông là một trong các ngôi chùa cổ xưa nhất tại huyện Thuận An nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung. Dù trải qua năm tháng, phải nhiều lần trùng tu vì chiến tranh gây hư hại thế nhưng chùa Bình Đông vẫn còn lưu giữ được 38 tượng phật cổ và nhiều hiện vật có giá trị lịch Sử và văn hóa. Đến nay, Chánh điện và nhà Tổ đã được trùng tu lại khang trang hơn với mái lợp tôn và nền tráng ciment đơn giản. Trong khuôn viên chỉ có một miếu thờ Sơn Thành, một tháp thở và một tượng Phật Quan Âm lộ thiên. Tuy thế khi đến viếng cảnh chùa, người hành hương cảm thấy như đang chìm trong một bầu không gian cô tịch. Cảnh quan đẹp mắt với sự sắp xếp hài hòa giữa những cây cảnh và hòn non bộ xen lẫn vào nhau.

 

2/ Tịnh Xá Ngọc Thịnh

Năm 1965,tịnh xá  đã được xây dựng tại ấp Bình Phước, xã Bình Nhâm nay thuộc khu phố Đông Tư, thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, Bình Dương. Vị trụ trì đầu tiên của chùa là Hòa thượng Thích Giác Nhiên (thế danh Nguyễn Văn Ất). Sau khi Tổ SƯ Minh Đăng Quang vắng bóng, Sư Giác Nhiên sáng lập Giáo đoàn 4 đi khắp nơi truyền đạo. Tại Bình Dương, Hòa thượng sáng lập 3 ngôi tịnh xá : Ngọc Dương (đã di dời), Ngọc Thịnh (Thuận An) và Ngọc An (Dĩ An).

Đến năm 1975, Đại đức Thích Minh Thuấn (thế danh Nguyễn Hữu Quang) đã chính thức về trụ trì tịnh xá Ngọc Thịnh cho đến nay. Sinh năm 1956 tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre trong một gia đình có đạo Phật . Năm 1971, Đại đức xuất gia tại tịnh xá Mỹ Đức (Mỹ Tho) với Hòa thượng Thích Từ Huệ. Năm 1975, thọ giới Tỳ kheo tại Pháp viện Minh Đăng Quang. Hiện nay, Đại đức Minh Thuấn là Chánh thư ký Ban Trị Sự Tỉnh hội Phật giáo Bình Dương.

Tọa lạc trên một khu đất rộng và cao hơn xung quanh tại trung tâm thị trấn Lái Thiêu, tịnh xá Ngọc Thịnh càng tăng thêm phần trang nghiêm và cổ kính với những cây cổ thụ trong khuôn viên tịnh xá. Tuy cổng Tam Quan nằm sát mặt lộ thế nhưng bên trong là một bầu không khí yên tĩnh. Trong sân chùa là một tượng Quan Âm lộ thiên và phía sau Chánh điện là nhà Tổ được xây dựng thoáng mát. Bên hông tịnh xá là nơi thờ Cửu Huyền và chu vị vong linh quá vãng.
Tịnh xá Ngọc Thịnh hiện nay là một nơi hành hương của phật tử gần xa đồng thời là một trong những điểm tham quan đẹp của thị trấn Lái Thiêu.
*Bên cạnh Tịnh Xá Ngọc Ngọc Thịnh còn 1 Tịnh xá nhỏ nữa…

3/Chùa Pháp Hoa

Địa điểm ấp 7 xã An Phước ; Long Thành. Năm XD 1966, trùng tu năm 1980 và 1992.


Do cố Hòa thượng Thích Thiện Thắng khai sơn, gồm có chùa Pháp Hoa Tăng và Pháp Hoa Ni. Pháp Hoa Ni tự hiện nay do Ni sư Thích Nữ Tịnh Chuyên trụ trì. Khi còn tại thế Hòa thượng Thiện Thắng ngoài việc tu hành, hướng dẫn Phật tử tu tập, Ngài còn là một thầy thuốc nam rất giỏi. Người bệnh ở các nơi nghe danh về chữa trị rất nhiều. Hòa thượng đã cứu giúp biết bao nhiêu người thoát khỏi nỗi khổ bệnh đau, và cũng nhờ nhân duyên này Hòa thượng đã khuyến hóa nhiều người bệnh biết quy y Tam bảo, biết học Phật pháp. Mặc dù Hòa thượng đã viên tịch hơn 9 năm nay nhưng hương thơm giới đức và những việc làm Từ Bi của Ngài vẫn còn lưu lại trong lòng mọi người. Nhân dịp này, Thượng tọa Thích Chân Tính cũng tán thán về công đức tu hành và hạnh nguyện cứu bệnh lợi tha của Hòa thượng, khuyến khích Phật tử nên noi gương Hòa thượng sống sao có ích cho đời, cho đạo.

Được biết Ni sư trụ trì Pháp Hoa Ni tự hiện nay tổ chức tu niệm Phật một tháng 1 ngày đã hơn 5 năm. Số lượng Phật tử về tu tập từ 100 đến 150 người mỗi lần. Nhân dịp này, Thượng tọa cũng khuyến khích Phật tử phải giữ vững niềm tin qua 3 điều căn bản của pháp môn Tịnh Độ là “Tín, Nguyện, Hạnh”.

Sư cô  tại Chùa Pháp Hoa thuộc ấp 7, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai). Nhắc đến cơ duyên đến với nghề y, sư cô Cúc không giấu được cảm xúc: “Có lẽ, việc tôi đến chùa và theo nghiệp bốc thuốc là ý của trời. Mọi chuyện xảy ra cứ như có ai đó sắp đặt và tôi chỉ thực hiện theo mà không có sự lựa chọn nào khác. Những gì đã trải qua, với tôi thật diệu kỳ và không thể tin nổi. Việc tôi còn sống đến ngày hôm nay là một kỳ tích. Chính hoàn cảnh khách quan cũng như chủ quan đã đưa tôi đến với ngôi chùa thân yêu mà chúng ta đang đứng nơi đây”.

Cùng với việc điều trị bằng thuốc, sư cô Cúc còn khuyên nhủ bệnh nhân nên kết hợp phương pháp ăn uống điều độ, hợp lý thì hiệu quả chữa bệnh sẽ cao hơn. Ngoài ra, sư cô cũng tiết lộ thêm về một loại hoa quả bệnh nhân viêm gan B nên dùng và có tác dụng phụ giúp điều trị căn bệnh rất tốt đó là chuối sứ (một loại chuối có hạt, thường dùng để ngâm rượu). Bệnh nhân nên ăn chuối sứ, mỗi ngày từ 1 - 3 trái, sẽ có tác dụng tốt hỗ trợ điều trị bệnh gan. Đặc biệt, mọi người nên chú ý đến sức khỏe bằng cách uống đủ lượng nước sạch mỗi ngày để thanh lọc cơ thể.

4/Chùa Cồ Đàm:
 Chùa Cồ Đàm do Sư bà Thích Nữ Diệu Đức  sinh năm 1920; hiến cúng cho GHPGVN - hệ phái Nam Tông vào năm 1992, tổng diện tích chùa rộng 7.000 m2 ( 07 ha ). Kiến trúc của chùa xây dựng theo ý tưởng duy nhất là hoa sen. Hình ảnh gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, nền chùa là gương sen - cột là cọng sen - mái là lá sen - vách là cành sen - trong mỗi cánh sen có một vị chư Thiên hiện ra với lòng thành kính và gìn giữ Phật Pháp.

Phía trước cổng chùa bước vào là Phật cảnh thành đạo được xây dựng vào năm 1992. Gồm tượng Phật Thích Ca cao 4m đang ngồi toạ thiền dưới gốc bồ đề cổ thụ hơn hai thế kỷ. Cao 9m - đường kính thân cây 4m5.Trước chánh điện là Phật cảnh đản sinh, minh hoạ tháp nước tràn bảy tầng sen cao 7m, theo hình ảnh bước chân đi của Thái tử Sĩ - Đạt - Ta lúc vừa hạ sinh. Phía trên tháp nước là tượng Bồ tát bằng đá trắng cao 1m8 khắc rất sống động - tay chỉ trời - tay chỉ đất.

Tổng diện tích chánh điện xây dựng là 480 m2 ( 12x20x14 ), hình dáng bên ngoài như một thuyền sen hai tầng, với ý niệm đưa người vượt sông mê để đến bờ giác ngộ giải thoát. Tầng trên thờ duy nhất tượng Phật Thích Ca, tầng dưới là giảng đường nơi giảng dạy Phật Pháp. Xung quanh là hồ nước bao bọc độ sâu 50cm.
Thời gian hoàn thành chánh điện là Tượng Đức Phật cao 3,5m bằng pha lê với trăm ngàn sắc hào quang tỏa khắp châu thân xung quanh là chư Thánh chúng nghe giảng.Phía sau chánh điện Bát Vạn Lộc ( bình bát lớn nhất việt nam cao 7,5m rộng 9,5m ) xung quanh bát được điêu khắc nhiều cánh sen bao boc rất tỉ mỉ và công phu. Bên trong thờ ngài Thánh Tăng Sivali, đại đệ tử của Phật, đệ nhất tài lộc.



Công trình hiện nay đang xây là Tăng xá, xây 05 phòng - 2 tầng ( 18x8 ), chiều cao là 10m5, kiến trúc xây giả tre - giả tre tượng trưng cho tre già măng mọc. Công trình đang được 2/3, chỉ còn phần hoàn thiện. Các công trình còn lại là trai đường và phước xá...
Chùa Cồ Đàm mặt tiền đường quốc lộ 51, nằm cạnh trại bò sữa Long Thành nơi rất tiện cho du lịch tâm linh. Đại Đức Chơn Thiện dự kiến tôn tạo nơi đây sẽ là điểm chiêm bái các Phật tích, và là nơi học tập Phật Pháp với những đặc thù riêng.

Là ngôi chùa nổi tiếng về mô típ Hoa Sen, Chùa tọa lạc bên quốc lộ 51 hướng về Vũng Tàu, thuộc số 120 Ấp 8, Xã An Phước, Huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai. Chùa được xây dựng theo kiến trúc mô típ hoa sen mang dáng vẻ thanh thoát. Vị trụ trì là Tỷ khưu Thích Chơn Thiện.

 

5/Ni viện Thiện Hòa: Tọa lạc trong khu vực Đại Tòng Lâm, thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Ni viện thuộc hệ phái Bắc tông.


Nơi đây nổi tiếng vì được thành lập năm 1989, ban đầu chỉ là một am nhỏ. Năm 1990, Hòa thượng Thích Thiện Hòa cho xây dựng ni viện. Ni viện được xây dựng quy mô, tráng lệ, nhưng vẫn mang nét cổ kính của ngôi chùa Việt.

Ni viện Thiện Hòa vẫn được mọi người quen gọi với cái tên giản dị là “chùa Bánh xèo”, tên gọi này xuất phát từ việc chùa dùng bánh xèo chay để thiết đãi du khách qua lại thăm viếng chùa hàng ngày.
Chùa Bánh Xèo tọa lạc ở bên phải, sau Đại Tòng Lâm Tự, thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nằm bên trái quốc lộ 51 hướng đi Vũng Tàu, cách TP.HCM khoảng 70km.

Lúc đầu, nơi đây chỉ là một am nhỏ được dựng lên vào năm 1989. Sau đó, vào năm 1990, hòa thượng Thích Thiện Hòa cho xây dựng thành ni viện làm nơi tu hành cho các ni cô. Ngày nay, nơi này còn là trường trung cấp Phật học Đại Tòng Lâm. 

Sau khi lễ Phật xong ở chánh điện, phật tử và du khách sẽ vô cùng thích thú khi được thưởng thức món bánh xèo chay ngon nức tiếng tại khu nhà ăn rộng rãi với 4 dãy bàn, cùng lúc có thể phục vụ hàng trăm người. Mỗi ngày dịp đầu xuân, chùa phải sử dụng đến hơn 1 tấn bột làm bánh xèo để tiếp đãi du khách.

Bánh xèo chay của nhà chùa (ăn bao nhiêu tùy thích)

6/Chùa Thích Ca Phật Đài Vũng Tàu.





Thích Ca Phật Đài là một trong những ngôi chùa nổi tiếng Vũng Tàu tọa lạc ở số 608 đường Trần Phú, phường 5, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, thuộc hệ phái Nam tông.
Thích Ca Phật đài là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng bậc nhất ở Vũng Tàu và miền Nam. Hằng năm, nơi đây tiếp đón cả triệu lượt du khách đến tham quan, chiêm bái. Phật đài đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Trước đây, vùng núi này không có người sinh sống. Năm 1957, ông Lê Quang Vinh, một quan phủ thời Pháp thuộc, lên đây dựng chùa Thiền Lâm để tu hành; vào giữa thập niên 40, Đại đức Narada Maha Thera cùng ông Lê Quang Vinh, Đốc Phủ sứ hồi hưu, viếng núi Lớn. Đại đức cho rằng đây là nơi thích nghi để lập một ngôi chùa. Đến năm 1957, ông Lê Quang Vinh xuất gia, pháp danh Giác Pháp, lên đây dựng chùa Thiền Lâm để tu hành.

Chùa Thiền Lâm đã được trùng tu vào năm 1961. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Ở án thờ chính giữa tôn trí tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền (cao 1,2m), một tượng đức Phật Thích Ca nhỏ phía trước. Hai bên thờ hai tượng đức Phật Thích Ca trì bình khất thực (cao 1,2m). Sách Sổ tay hành hương đất phương Nam  cho biết hai pho tượng hai bên là A Nan và Ca Diếp, nhưng chư Tăng của hệ phái Phật giáo Nam Tông thì cho biết đó là tượng đức Phật Thích Ca.

Đến năm 1961, Giáo hội Phật giáo Nguyên thủy đã nhận thấy khung cảnh thiên nhiên ở đây đẹp đẽ, vị trí lại thuận tiện cho khách hành hương đến chiêm bái nên đã vận động tín đồ Phật tử đóng góp tiền của xây dựng khu Thích Ca Phật đài Vũng Tàu tại đây. Lễ đặt viên đá đầu tiên được tiến hành tại Bảo tháp ngày 4 – 6 – 1961. Lễ khởi công xây dựng được tổ chức vào ngày 20 – 7–1961. Sau 19 tháng thi công, lễ khánh thành được tổ chức trọng thể vào hai ngày 09 và 10 – 3 – 1963 (tức ngày 14 và rằm tháng hai năm Quý Mão).


7/Chùa Quan Âm Nam Hải.

Đây là ngôi chùa nhỏ tọa lạc trên đường Trần Phú - Vũng Tàu, Chùa Quan Âm Nam Hải ở số 112 đường Hạ Long (đường từ bãi trước ra bãi sau chạy dọc theo bờ biển), thuộc phường 1, thành phố Vũng Tàu, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.Chùa được Sư Bà Thích Nữ Diệu An (1915 – 1979) Viện Chủ Chùa Phổ Quang ở Thành Phố Hồ Chí Minh, thành lập vào năm 1963. Sư Bà Diệu An tịch vào ngày 29 tháng 2 năm Kỷ Mão (1979) đệ tử là Ni Sư Thính Nữ Diệu Trí kế trụ trì sinh năm 1942 tại Hà Đông;Năm 1954 xuất gia với Sư Bà Diệu An ở Chùa Phổ Quang. Sau khi Sư Bà tịch, Ni Sư Như Thảo về chùa Quan Âm Nam Hải nối tiêp hoằng truyền Phật Pháp cho đến hiện nay.Ni Sư lập đạo tràng Bát Quan Trai cho vài chục Phật Tử tu tập hàng tuần tại chùa và tích cực trong công tác từ thiện xã hội.Chùa Quan Âm Nam Hải được xây dựng trên sườn núi phía đông của Núi Nhỏ (Núi Tao 

Phùng).Qua cổng chùa, khách hành hương bước lên các bậc tam cấp là đến tượng QuanThế Âm ở sân trước chùa.Chánh Điện là toà nhà rộng lớn với hai tầng mái cao.Chùa được dựng tựa vào sườn núi.Từ chùa nhìn ra xa là Biển Đông (Biển Nam Hải) rộng bao la. Cảnh trời, biển, non nước, gió biển… của chùa, đem lại sự thanh tịnh, tươi mát cho khách hành hương khắp bốn phương về viếng chùa.Trước mặt là Bãi Dâu sóng vỗ rì rào. Điểm đặc biệt chính là pho tượng Phật Bà Quan Âm cao 16 m đứng trên tòa sen trắng, khuôn mặt phúc hậu, đức độ, tay cầm bình Cam Lộ hướng ra biển xanh. 

Đây là điểm tham quan hành hương nổi tiếng của Vũng Tàu, thu hút đông đảo du khách. Sau lưng là núi, trước mặt là biển xanh nên chùa Quan Thế Âm luôn là điểm hút khách vào các ngày lễ và rằm hàng tháng. Đến Vũng Tàu, Phật từ và du khách thường hành hương bái Phật, vừa được thưởng lãm khung cảnh tuyệt đẹp và khám phá những văn hóa truyền thống nơi này.

8/Niết Bàn Tịnh Xá


là một ngôi chùa nằm bên triền Núi Nhỏ, thành phố Vũng Tàu. Chùa được Thượng tọa Thích Thiện Tuệ cho xây từ năm 1969 đến năm 1974 bằng tiền quyên góp của Phật tử. Chùa có vị trí dựa vào núi nhìn ra biển. Bên trong có tượng Đức Phật ngọa thiền. Đây được xem là một trong những ngôi đẹp nhất Vũng Tàu.

Niết Bàn Tịnh Xá tọa lạc bên triền núi Nhỏ, đây là công trình có kiến trúc Đông Tây kết hợp: Chánh điện nổi bật với bức tượng Phật Niết Bàn nằm nghiêng, nhìn về hướng Tây. Bên phải là thuyền Bát Nhã - nơi trang trí nhiều hoa và cây cảnh, rừng Thổ Đà tái hiện sự tích Thái tử Grotama hành pháp khổ hạnh cứu đời. Sân thuyền Bát Nhã có tháp chuông bốn mái uống cong, đầu đao đắp nổi tượng đồng, trong đặt Đại Hồng Chung bằng đồng nổi tiếng với âm thanh ngân vang. Phía trước Chánh điện là lư hương lớn với hình tứ linh "Long - Lân - Quy - Phụng" được ghép rất công phu bằng các mảnh sứ đủ loại.

 là một trong những ngôi chùa đẹp nhất ở Vũng Tàu với những đường nét kiến trúc hiện đại. Chùa "Niết Bàn Tịnh Xá" còn gọi là chùa "Phật Nằm" được xây dựng trên sườn núi Nhỏ, hướng mặt ra biển. Chùa được khởi công xây dựng từ năm 1969 và khánh thành vào năm 1974 bằng tiền quyên góp của đồng bào phật tử. Thượng tọa Thích Thiện Huệ đại diện đứng ra lo toan việc xây dựng.
Ở phía trước chùa là một cột cờ cao 21m, được làm thành 42 bậc biểu tượng cho 42 trang kinh phật đầu tiên được lưu truyền vào Việt Nam vào thế kỷ thứ 2. Cổng chùa có 4 chữ "NIẾT BÀN TỊNH XÁ" tức là nơi thanh cao nhất của đạo Phật

9/Tu viện Phước Hải

 Trước đây chùa có tên là chùa Phước Hải nhưng đến năm 1999 được các Phật tử đóng góp và xây dựng mới nên đổi tên thành Tu viện Phước Hải. Do tên chùa đã có từ lâu đời nên người ta vẫn quen gọi tên cũ của nó là chùa Phước Hải. Tu viện hay còn gọi là Chùa Phước Hải tọa lạc ở ấp 1A, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Chùa Phước Hải thuộc Hệ phái Bắc tông. Từ Quốc lộ 51, đi vào cổng phụ của nhà máy bột ngọt Veđan, đi thẳng vào khoảng 500m, trên đường vào cảng Gò Dầu, chùa nằm bên trái.
Chùa Phước Hải được xây dựng vào năm 1990 do kiến trúc sư Đoàn Hồng Dũng thiết kế với sự cộng tác của Ni sư Thích Nữ Như Như

Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Án giữa tôn trí tượng đức Phật Thích Ca, hai bên thờ tượng Bồ tát Quan Âm và Bồ tát Địa Tạng. Phía trước, thờ tượng đức Phật A Di Đà, đức Phật Thích Ca và đức Phật Dược Sư. Chùa Phước Hải còn giữ một số pho tượng cổ. Ở sân chùa, có nhiều tượng Phật lộ thiên như: vườn Lâm Tì Ni, tượng đức Phật chuyển pháp luân, tượng đức Phật nhập niết bàn, đài Quan Âm…

Chùa Phước Hải nổi tiếng với tên chùa rau má hay “Chùa bún riêu”, do chùa thường đãi miễn phí chư Phật tử và du khách  gần xa cơm chay;  món bún riêu chay và rau sống có rau má rất ngon. Vị trí tọa lạc của chùa rất độc đáo; Nếu ai đã từng nghe qua cụm từ: “ Chùa Bún Riêu” đó chính là tên gọi khác của chùa. Đây có thể là lý do khiến  ngôi chùa này trở nên lôi cuốn và nổi tiếng hơn./.


CHÙA VĨNH NGHIÊM









 

(Ngô Lê Lợi-Trần Nhật Duật, TP HCM-25/2/2019)