Xem Phong thủy-Tử vi ở Hà Nội

NHẬN TƯ VẤN: Xem phong thủy Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng:Chọn hướng tốt. Phòng làm việc; phòng khách; bếp; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Xem tuổi Xây dựng nhà , sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Âm trạch mồ mả tư vấn xem hướng đặt mộ hợp phong thủy, tư vấn đặt mộ trong nghĩa trang. Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới,ngày ăn hỏi. Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.Xem Tử vi để biết vận mệnh cuộc đời; dự báo ngày cưới; dự báo tang ma; dự báo công danh, sự nghiệp, thăng quan, tiến chức.Các đại, tiểu vận trong cuộc đời...Điện thoại: 036.439.6238


Chủ Nhật, 20 tháng 6, 2021

12 cung vô chính diệu

 


12 cung vô chính diệu

Mệnh Vô Chính Diệu:
Bài viêt rất quý giá mọi người nên đọc và lưu trữ lại.
- Lúc còn nhỏ thường vất vả, lận đận, hoặc hay đau yếu, khó nuôi. Lớn lên, giảm thiểu được bệnh tật, tai họa do nhạy bén hoặc linh cảm được được sự việc sắp xảy ra. Nếu là con trưởng thì không sống gần cha mẹ, nếu gần cha mẹ thì dễ chết non hoặc nghèo nàn
- Cuộc sống trôi nổi, cho dù đắc cách thì cũng hoặc phú quý chỉ một thời, hoặc đáng hưởng phú quí thì lại chết.
- Làm phụ tá thì bền, làm trưởng thì không bền. Vì thế, nên hoạt động trong bóng tối hoặc ẩn danh là tốt nhất.
- Không có lập trường vững vàng, tư tưởng không ổn định (trừ một số trường hợp đặc biệt đã nêu ở phần A) nhưng dễ thích ứng với hoàn cảnh.
- Nữ Mệnh Vô Chính Diệu thì đỡ xấu hơn Nam Mệnh Vô Chính Diệu
- Mệnh Vô Chính Diệu thì cần Hỏa mệnh và Kim mệnh vì Mệnh Vô Chính Diệu như nhà không nóc, cần bản mệnh có hành khí mạnh mẽ cứng cỏi làm nồng cốt. Các mệnh khác như Thổ, Thủy, Mộc thì không tốt.
- Mệnh Vô Chính Diệu Đắc Tam Không thì khi đương số sinh ra, bố mẹ thường hoặc sẽ phát đạt hoặc bị khủng hoảng, tai nạn trong một thời gian. Và cuộc đời đương số bao giờ cũng có sự thay đổi bất ngờ.
- Mệnh Vô Chính Diệu có hung tinh độc thủ thì cần đồng hành với bản Mệnh mới là thật tốt.
- Mệnh Vô Chính Diệu mà không có Tuần, Triệt án ngữ, lại có sao Thiên Không thủ, gọi là cách ngộ Không, là người quyền biến khôn ngoan nhưng cuộc đời thăng trầm cực khổ. Nếu thêm các sao Không khác hội chiếu thì càng xấu, cuộc đời hoặc thăng trầm cực khổ hoặc sẽ bị chết yểu. Nếu lại có hung tinh lạc hãm, khác với hành của bản Mệnh tọa thủ thì càng nguy hiểm hơn.
- Mệnh Vô Chính Diệu có tam không (Thiên không, Địa không, Địa kiếp), được nhiều cát tinh hội họp, lại có các vận liên tiếp tốt đẹp thì đương số thường được sung sướng từ bé nhưng dễ bị yểu tử.
- Mệnh Vô Chính Diệu nếu có sao Thiên Tướng, Tướng Quân... đóng mà gặp Tuần Triệt án ngữ thì dễ đưa đến tai họa bất ngờ cho đương số.
- Mệnh vô chính diệu mà cung Tử cũng vô chính diệu thì cả đời khổ về vấn đề con cái.ko được tốt !
2. QUAN LỘC
Quan Lộc vô chính diệu thì đương số thường không bền chí, nghề nghiệp cũng hay thay đổi, công danh thấp, bình thường, hoặc có công danh nhưng không bền. Nếu không rơi vào những trường hợp đặc biệt thì dù được các sao sáng sủa hội họp nhưng đường quan lộc cũng không hiển đạt.
Nếu Quan Lộc vô chính diệu, có hung tinh độc thủ thì hoạch phát công danh nhưng cũng không được bền.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì công danh tuy chậm nhưng cũng tạm khá, đương số thường hoạt động trên lĩnh vực chính trị hoặc kinh tế. Trường hợp này nếu được Tuần hoặc Triệt án ngữ sẽ làm tăng vẻ tốt đẹp của công danh, càng về sau công danh càng tốt tuy ban đầu có gặp trắc trở. (Cũng cần lưu ý rằng: gặp Tuần thì công danh tuy buổi đầu có trắc trở nhưng sau vẫn sáng lạn còn gặp Triệt thì chỉ khá hơn chút chút và công danh không bền.)
Trường hợp có Tuần Triệt án ngữ và được nhiều sao sáng sủa hội chiếu thì công danh cũng trước bị trở ngại, sau tuy khá nhưng sự nghiệp cũng không bền, thường hoạnh phát hoạnh phá. Nếu Tuần Triệt án ngữ đồng cũng thì công danh chỉ ở mức bình thường cho dù có được các yếu tố khác như Mệnh Thân Phúc Hạn… tốt
3. TÀI BẠCH
Tài Bạch vô chính diệu thì tiền tài không đều đặn, lúc có lúc không, nếu có tiền của thì cũng không tụ được lâu, tụ tán thất thường. Cho dù có được nhiều sao sáng sủa hội họp, lại lấy chính tinh xung chiếu (đắc địa) làm tọa thủ thì cũng không thể giàu có lớn được.
Nếu Tuần Triệt án ngữ thì đương số may mắn hơn trong việc kiến tạo tiền bạc cho mình. Trường hợp này, nếu được nhiều sao tốt đẹp hội chiếu thì ban đầu kiếm tiền thường khó khăn, sau mới thuận lợi nhưng cũng không thể giàu có được.
Nếu có hung tinh đắc địa độc thủ thì sẽ hoạnh phát nhưng thường hoạnh phá, không bền, chỉ giàu có một giai đoạn.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì thật tốt đẹp, may mắn về tiền bạc, nhất là càng về già càng nhiều tiền của. Trường hợp này, nếu được thêm Tuần, Triệt án ngữ, đặc biệt là Tuần, thì đương số sẽ thêm nhiều may mắn, thuận lợi trong việc kiếm tiền và chắc chắn là người giàu có lớn.
4. THIÊN DI
Thiên Di vô chính diệu thì nhìn chung sẽ không thể giàu có lớn được, cho dù có nhiều sao sáng sủa hợp chiếu. Ra ngoài dễ bị chi phối (tiêu cực) bởi môi trường, ngoại cảnh.
Nếu được Tuần Triệt án ngữ thì cuộc sống sẽ tốt hơn nhưng lại dễ chết xa nhà.
Nếu Hung sát tinh độc thủ thì ra ngoài dễ kiếm tiền, thường kiếm được tiền một cách bất ngờ, nhưng lại hao hụt nhanh chóng, kiểu hoạnh phát hoạnh phá vậy.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì khá tốt đẹp, đương số sẽ gặp nhiều may mắn, thuận lợi khi ra ngoài. Trường hợp này, nếu được Tuần, Triệt án ngữ (nhất là Tuần) thì sự may mắn, thuận lợi tăng lên nhiều.
5. PHÚC ĐỨC
Phúc vô chính diệu thì đương số thường phải xa cách họ hàng hoặc không được sống gần người thân, ruột thịt. Nếu được chính tinh sáng sủa xung chiếu và cát tinh hội họp thì chắc chắn đương số sẽ được hưởng phúc, sống lâu và may mắn.
Nếu Phúc cung vô chính diệu đắc tam không tất sẽ được hưởng phúc lộc dồi dào. Tuy nhiên, chỉ những người Mệnh Kim, Mệnh Hỏa mới được hưởng hết những ưu điểm của cách này, kỳ dư các Mệnh khác, được hưởng không nhiều.
Nếu Hung Tinh đắc địa độc thủ thì đương số cũng được hưởng phúc lộc nhưng chỉ trong một giai đoạn mà thôi. Tại Dần Thân nếu gặp Đà La độc thủ thì thường hưởng phúc, sống lâu.
Nếu Phúc vô chính diệu được Nhật Nguyệt sáng sủa hợp chiếu thì rất tốt, đương số được hưởng phúc, sống lâu, được nhờ cậy họ hàng. Trường hợp này, nếu gặp Tuần Triệt án ngữ thì số mệnh của đương số càng tốt đẹp ở nhiều phương diện.
Phúc vô chính diệu rất cần gặp Tuần, không nên gặp Triệt. Nếu gặp Tuần thì hưởng phúc, sống lâu, gặp Triệt thì họ hàng khá giả nhưng không bền cho dù được nhiều sao tốt hội chiếu, còn bản thân dễ phải ly hương lập nghiệp, xa cách người thân.
6. ĐIỀN TRẠCH
Điền vô chính diệu thường là người không được hưởng di sản của cha ông để lại, phải tự tay tạo lập điền sản nhưng phải sau 40 tuổi mới hy vọng có chút tài sản của riêng mình.
Người có cung Điền vô chính diệu thường hay thay đổi chỗ ở, điền sản, cuộc đời cũng thăng trầm bất định, khi lên khi xuống, nhà đất khó giữ, cho dù có sao giữ của như Quả Tú. (Có quan điểm cho rằng: Điền vô chính diệu là khi đương số ra đời, kinh tế của bố mẹ đang gặp cảnh khó khăn, sau đó mới giàu có dần.)
Nếu gặp Tuần Triệt án ngữ (hoặc Tuần, Triệt đồng cung) thì buổi đầu tuy gặp trắc trở trong việc tạo dựng điền sản, như: thường phải thay đổi chỗ ở, mua rồi lại phải bán đi, thành bại thất thường... nhưng sau dễ dàng thuận lợi. Tuy vậy, về già mới được ổn định nhưng nhà đất chỉ ở mức trung bình.
Nếu cung Điền vô chính diệu đắc tam không thì điền sản tuy khá nhưng cũng không bền.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì trước trắc trở nhưng càng về sau càng thuận lợi, nhiều nhà đất, điền sản. Trường hợp này nếu được Tuần Triệt án ngữ sẽ càng tốt hơn, đương số sẽ rất giàu có và có rất nhiều nhà đất.
Nếu Hung sát tinh độc thủ thì tài sản tạo nên bất ngờ nhanh chóng, nhưng cũng suy bại khá nhanh, đặc biệt là Hỏa Linh Không Kiếp. Còn Kình Đà độc thủ thì tuy hoạnh phát hoạnh phá nhưng sau cùng vẫn được khá giả.
7. NÔ BỘC
Nô Bộc vô chính diệu thì bạn bè và người giúp việc (tôi tớ) không bền, dễ ly tán. Nếu gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì tốt hơn, tôi tớ đắc lực hơn, lúc trước mướn người khó khăn nhưng sau thì dễ hơn nhưng tôi tớ cũng không bền.
Nếu Nô cung vô chính diệu, được Hung sát tinh độc thủ thì tôi tớ rất đắc lực nhưng thường hay lấn át chủ. Đương số có nhiều bạn bè tài giỏi, làm ăn táo bạo, nhưng thường nằm trong giới giang hồ, xã hội đen.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì thật tốt đẹp: Người giúp việc đắc lực, trung thành và có nhiều bạn bè khá giả, tận tâm giúp đỡ đương số.
8. PHỤ MẪU
Phụ Mẫu vô chính diệu thì đương số thường phải ly hương lập nghiệp, không được hưởng di sản của cha mẹ; cha mẹ thọ nhưng không giúp đỡ được con cái bao nhiêu, hoặc con cái không báo hiếu được cha mẹ nhiều.
Nếu gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì cha mẹ tuy được tốt hơn nhưng đương số dễ khắc cha hoặc khắc mẹ, hoặc đương số phải sớm xa cách cha mẹ, như xa quê vì mưu sinh hay đến làm con nuôi người khác.
Dù cung Phụ - Mẫu (vô chính diệu) có được nhiều cát tinh hội họp thì đương số cũng nên sớm xa gia đình, tốt nhất là xuất ngoại thì hậu vận mới mong có thể có công danh được.
9. PHU THÊ
Phu Thê vô chính diệu thì thường chậm lập gia đình, hoặc không yêu ai mặn nồng, chóng yêu chóng chán, không có xu hướng lập gia đình mạnh mẽ và thường lập gia đình một cách bất ngờ. Nên muộn lập gia đình để tránh bị hình, chia ly.
Nếu gặp Tuần Triệt án ngữ thì buổi đầu tuy khó khăn, trắc trở nhưng sau được tốt hơn, tuy vậy cũng nên lập gia đình trễ, không nên lập gia đình sớm. Gặp Tuần tốt hơn gặp Triệt.
Người Hỏa Mệnh, nếu được Đắc Tam Không thì rất tốt, vợ chồng may mắn, hòa thuận.
Nếu Hung Sát tinh độc thủ thì vợ chồng tuy đều giỏi giang nhưng không hòa thuận, dễ hình khắc hoặc chia ly.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì vợ chồng tốt đẹp, hòa thuận.
10. TỬ TỨC
Tử Tức vô chính diệu thì thường không có con, ít con, hoặc chậm con, hoặc không nhờ cậy được con, hoặc con đầu lòng sinh ra khó nuôi. Nhưng nếu có Tuần, Triệt án ngữ thì đương số thường chậm có con hoặc sinh con ban đầu khó nuôi nhưng sau này con cái rất khá giả.
Nếu Hung tinh đắc địa độc thủ thì con cái khá giả nhưng khó nuôi con hoặc muộn sinh con, hoặc con cái không hợp với cha mẹ.
Nếu Tử Tức vô chính diệu, được Nhật Nguyệt sáng sủa hợp chiếu thì đương số sẽ thuận lợi, may mắn về đường con cái và con cái sau này khá giả, quí hiển. Trường hợp này nếu được thêm Tuần, Triệt án ngữ, nhất là Tuần, thì sự may mắn về đường con cái của đương số sẽ tăng thêm nhiều.
Nếu Tử Tức vô chính diệu mà Mệnh lại vô chính diệu nữa thì chắc chắn đương số cả đời vất vả về đường con cái, rất dễ rơi vào khả năng có con thấp
11. HUYNH ĐỆ
Huynh Đệ vô chính diệu thì thường không được nhờ cậy anh chị em, hoặc anh chị em ly tán, không ở gần anh chị em.
Nếu được Tuần Triệt án ngữ thì tốt lên, nhưng anh (hoặc chị) trưởng thường chết sớm. Trường hợp này, anh chị em lúc tiền vận thường long đong nhưng về hậu vận sẽ khá giả.
Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì anh chị em thương yêu nhau, giúp đỡ nhau. Trường hợp này có thêm Tuần Triệt án ngữ thì càng tốt, anh chị em thuận hòa, quý hiển.
12. TẬT ÁCH
Cung Tật Ách vô chính diệu thì chắc chắn đương số là người khỏe mạnh, ít bệnh tật tai họa nhưng khi tai họa đến thì khó tránh khỏi, phải gánh chịu hậu quả xấu. Nhưng nếu được Tuần Triệt án ngữ thì thật tốt, đương số sẽ ít bệnh tật, tai họa.
Để đơn giản và hiệu quả việc tự học, tự áp dụng kiến thức khoa Tử Vi vào luận giải lá số và ứng dụng vào cuộc sống, người viết đã cố viết thật đơn giản, thật dễ hiểu, thật ngắn gọn nhưng rõ nghĩa, đủ nghĩa những điểm cơ bản, những lưu ý cần cẩn trọng với bạn đọc về 12 cung vô chính diệu trên lá số. (F/b Ma Da Phong thuy)

Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2021

Lá số tử vi của người 2 đời vợ có đặc điểm gì? Nhiều người có con đường tình duyên gập ghềnh

 


Nhiều người có con đường tình duyên gập ghềnh, hôn nhân đứt đoạn, chắp nối. Liệu rằng sau lần “Đứt gánh giữa đường” thì họ sẽ tìm được hạnh phúc đích thực của mình? Đặc biệt với nam giới, việc có hai hay nhiều đời vợ không còn hiếm gặp, cả trong xã hội xưa lẫn xã hội nay.
Vậy thì lá số tử vi của người 2 đời vợ sẽ có đặc điểm như thế nào? Dưới đây là một số đặc điểm nổi bật trong lá số tử vi của người có số 2 đời vợ.
ĐẶC ĐIỂM ĐẦU TIÊN: CUNG MỆNH, CUNG THÂN KHÔNG ĐẸP
Nếu cung Mệnh, cung Thân có nhiều dấu hiệu hình khắc, cô độc sẽ báo hiệu sự bất lợi, trắc trở về hôn nhân gia đình. Sự xuất hiện của các sao hình khắc như Vũ Khúc, Thất Sát, Hóa Kỵ, Cô Thần, Quả Tú… hãm địa, khiến cho sự trắc trở về hôn nhân ngày càng linh nghiệm.
ĐẶC ĐIỂM THỨ HAI: CUNG MỆNH, CUNG THÂN CÓ SAO ĐÀO HOA, D M TINH
Nếu cung Mệnh, cung Thân có các đặc điểm này sẽ báo hiệu sự trăng hoa, có mới nới cũ, có tình mới phụ tình cũ… Những người có tử vi có đặc điểm này thường là những người không chung thủy, hay lăng nhăng, bắt cá hai tay. Trong tình yêu thường đa tình, muốn thêm mà không muốn bớt.
ĐẶC ĐIỂM THỨ BA: CÓ NHIỀU SÁT TINH TẠI PHU THÊ, PHÚC ĐỨC, THIÊN DI
Nếu tại các cung này gặp nhiều sát tinh, chính diệu mờ nhạt thì rất có thể đương số phải trải qua hai đời vợ:
Tại Phúc Đức chính diệu mờ ám, sát tinh hội tụ, rất xấu mà còn tam chiếu với Phu Thê cho thấy đời sống trong gia đình tinh thần rất kém, nhiều bất an lo lắng, vất vả lo toan, phiền muộn.
Tại Phu Thê có các sao chính diệu mờ ám, sát tinh hội tụ, nhiều dâm tinh, sao báo hiệu sự đổi thay hay biến động… chủ về ăn chơi lạc thú, yêu đương lăng nhăng, nam giới dễ mang số hai đời vợ. Nếu Phu Thê nhị hợp với Nô Bộc báo hiệu khả năng vợ ngoại tình cao dẫn đến ly hôn.
ĐẶC ĐIỂM THỨ TƯ: TẠI TỬ TỨC BÁO HIỆU CON DỊ BÀO
Nếu ở cung Tử Tức của đương số có dấu hiệu thể hiện tình trạng có con dị bào một cách rõ ràng thì khả năng đương số sẽ kết hôn ít nhất 2 lần. Hoặc nếu không thì cũng có mối quan hệ ngoài luồng.
ĐẶC ĐIỂM THỨ NĂM: LÁ SỐ CÓ NHIỀU SAO CHỦ VỀ GIA ĐẠO
Lá số có các sao chủ về gia đạo mà gặp các phụ tinh xấu thì phần nào thể hiện được gia đạo không bền vững, nhiều xáo trộn, mâu thuẫn. Ví dụ như Thái m: Chủ về vợ, gia đạo. Sao này hãm địa và gặp Kình Dương, Đà La, Hóa Kỵ, Thiên Riêu thì bất lợi gia đạo lớn.
ĐẶC ĐIỂM THỨ SÁU: MỆNH, THÂN HAY PHU THÊ CÓ TẢ PHÙ, HỮU BẬT
Nếu có Tả Phù, Hữu Bật tại các cung này thường ứng với nhiều lần vấp ngã. Nếu ứng nghiệm vào hôn nhân gia đình thì sẽ là kết hôn nhiều lần, làm lại gia đình, làm lại cuộc sống hôn nhân, tơ duyên đứt gãy lại được chắp nối.
TỔNG KẾT
Như vậy, lá số tử vi của người có hai đời vợ chủ yếu là ở Mệnh, Thân, Phu Thê xấu, có dấu hiệu con riêng, gia đình mâu thuẫn, xáo trộn. Đương số là người đào hoa, không chung thủy, lăng nhăng muốn thêm mà không muốn bớt, hoặc lấy phải vợ ngoại tình.
(F/b Cự Môn)

Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2021

Đặc điểm lá số tử vi của người 2 đời chồng

 


Đặc điểm lá số tử vi của người 2 đời chồng

Không phải ai cũng suôn sẻ, may mắn về đường tình duyên của mình. Có rất nhiều người tình duyên trắc trở, cuộc sống hôn nhân không êm đẹp, nhất là nhiều chị em phải đi bước nữa mới gặp được hạnh phúc của đời mình. Vậy những người 2 đời chồng thì tử vi sẽ có đặc điểm như thế nào? Nếu bạn đang tò mò về điều này thì đừng bỏ qua những thông tin ngay sau đây.
Những đặc điểm lá số tử vi của người 2 đời chồng:
PHU THÊ CÓ BIỂU HIỆN XẤU
Những người có Thất Sát, Tham Lang, Phá Quân, Hóa Kỵ, Thiên Hình, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp… tọa ở Phu Thê thì đa phần có nhân duyên chắp nối, gặp bất hạnh trong gia đình. Một số trường hợp dễ gặp nhất là chồng cũ bị tai nạn hoặc bị bệnh qua đời, hoặc chồng cũ là người vũ phu, độc ác, tệ bạc. Từ đó dẫn tới hôn nhân đứt gánh, người phụ nữ sau ly hôn thì tìm được đối tượng mới - cũng là hạnh phúc cả đời của họ.
PHÚC ĐỨC HỘI CHIẾU VỚI PHU THÊ
Khi thấy Phúc Đức luôn hội chiếu với Phu Thê thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu tới cuộc sống hôn nhân gia đình. Nhất là khi có sự xuất hiện của Cô Thần, Quả Tú, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ và sát tinh thì chuyện tình cảm yêu đương gập ghềnh trắc trở. Cuộc sống hôn nhân không suôn sẻ, có thể gặp cả những xích mích với họ hàng bên nhà chồng mà dẫn đến ly hôn.
NÔ BỘC CÓ CẢ SAO TÌNH ÁI
Nô Bộc chỉ bạn bè, đồng nghiệp… nhưng trong trường hợp có các sao tình ái tọa tại Nô Bộc thì rất có khả năng có những mối quan hệ ngoài hôn nhân. Sau khi ly hôn sẽ tiến đến những mối quan hệ này mà đi bước nữa.
TỬ TỨC CÓ CON DỊ BÀO
Con dị bào nghĩa là người phụ nữ sẽ có con với mấy đời chồng. Khi Tử Tức chỉ con dị bào thì đồng nghĩa với việc có hai đời chồng càng ứng nghiệm hơn nữa.
TỬ VI CÓ PHÁ QUÂN VÀ THÁI ÂM
Thái m chỉ quan hệ gia đạo, nếu bị Thiên Riêu, Đà La, Hóa Kỵ, Kình Dương ám thì gia đình thường sóng gió. Phá Quân là phu thê, chồng vợ, khi Phá Quân gặp Địa KHông, Địa Kiếp thì rất dễ xảy ra bất hạnh lớn trong hôn nhân, thường là ly hôn, mỗi người một nơi.
ĐÀO HOA, HỒNG LOAN TỌA PHU THÊ
Khi Tham Lang, Liêm Trinh, Đào Hoa, Hồng Loan… tọa ở Phu Thê, ngoài ra còn ở Thân, Mệnh, Phúc Đức, bên cạnh đó gặp các sao xấu mờ hãm thì gia đạo luôn luôn bất ổn, lộn xộn. Thường gặp các vấn đề xấu liên quan tới chuyện tình cảm, yêu đương ngoài luồng, không chung thủy. Những người phụ nữ có tử vi như vậy đa phần là từ bỏ cuộc hôn nhân của mình và đi bước nữa để mong có được hạnh phúc về sau.
TẢ PHÙ, HỮU BẬT Ở PHU THÊ, TỬ TỨC
Phụ tinh cần lưu ý đó là Tả Phù, Hữu Bật – chúng thể hiện sự chắp nối, ám chỉ số nhiều. Khi chúng ở Phu Thê, Tử Tức đồng nghĩa với việc hôn nhân, gia đình chắp nối, dễ có con với nhiều đời chồng.
TỔNG KẾT
Những người có số đa phu - hai đời chồng thì thường thể hiện rất rõ trên lá số tử vi của họ, đặc biệt là ở Phu Thê và Tử Tức. Không ai muốn mình phải mang số đa phu. Tuy nhiên vì nhiều lý do, nếu không thể cùng ở bên nhau đến đầu bạc răng long thì giải thoát cho nhau và đi bước nữa cũng là điều tốt. (Cự Môn trong TuviVietnam)

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2021

Tại sao tôi đi chùa?

 

Tại sao tôi còn trẻ mà lại thích đi chùa, tin theo Phật Pháp?

🌸 Tôi trả lời:
Để suy nghĩ và làm cho đúng hơn, mai sau đỡ phải hối hận về những sai lầm của mình đã làm lúc còn trẻ.
* Có người đã từng hỏi tôi rằng : Đi chùa cúng dường để cầu lộc cho mình à?
🌸 Tôi trả lời:
Không phải cầu lộc cho mình, mà để phụ giúp Tam Bảo có thêm phương tiện để bảo vệ Phật Pháp, duy trì Phật Pháp, từ đó đem đến hạnh phúc cho tất cả chúng sinh.
* Có người hỏi tôi rằng: Theo Phật Pháp rồi vậy có tin vào khoa học kỹ thuật không?
🌸 Tôi trả lời:
Khoa học kỹ thuật là thành quả lao động tuyệt vời của loài người, theo Phật Pháp để được tăng trưởng đạo đức, trí tuệ, để có sáng tạo trong KHKT. Và biết ứng dụng KHKT vào những điều có ích cho nhân loại. Nhưng nhiều khi phải dùng đến năng lực tâm linh Phật Pháp mới có thể giải quyết được vấn đề.
Có người hỏi tôi rằng: Tôi có mê tín không?
🌸 Tôi trả lời:
Tôi không mê tín vì tôi tin vào luật Nhân Quả. Dù tôi biết rằng có các hiện tượng tâm linh như: bùa, chú, ngãi, lên đồng, ngoại cảm và bói toán…Nhưng tôi không mê lầm vào những điều đó.
* Có người hỏi tôi rằng:



Từ khi tôi theo Phật Pháp đến giờ, tôi đã được điều gì cho mình chưa?
🌸 Tôi trả lời:
Tôi có được đạo đức, trí tuệ khi suy xét việc đúng sai hơn, tôi có được luật Nhân Quả để giải quyết được mọi vấn đề trong cuộc sống. Tôi có ý chí và niềm tin vào chánh Pháp để bước đi trong cuộc đời, tôi có được tình yêu thương đối với mọi người…
* Có người từng hỏi tôi rằng: Vậy còn điều gì tôi chưa có?
🌸 Tôi trả lời:
Tôi còn phải tu tập và thực hành rất nhiều để đạo đức thêm tăng trưởng, để tiến đến sự Vô Ngã để trong tôi không còn có từ “Tôi”, để tích lũy thêm công đức, để bảo vệ Phật Pháp, để được xứng đáng là một Phật tử với đầy đủ ý nghĩa của nó.
Và một câu hỏi cuối cùng: Ai đã dẫn dắt tôi đến với Phật Pháp?
🌸 Tôi trả lời:
Đó là do duyên lành mà tôi đã gặp được “Người”, một Người Thầy tuyệt vời về cả trí tuệ lẫn đức độ. Khi giảng, Thầy đã mở ra cho tôi một con đường chân lý sáng ngời trên đó tràn đầy hào quang của Đức Phật.
𝐂𝐨𝐧 𝐱𝐢𝐧 𝐜𝐚̉𝐦 𝐨̛𝐧 𝐓𝐡𝐚̂̀𝐲 𝐫𝐚̂́𝐭 𝐧𝐡𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐯𝐚̀ 𝐜𝐨𝐧 𝐬𝐞̃ 𝐜𝐨̂́ 𝐠𝐚̆́𝐧𝐠 𝐭𝐮 𝐭𝐚̣̂𝐩 đ𝐞̂̀𝐧 đ𝐚́𝐩 𝐜𝐨̂𝐧𝐠 𝐨̛𝐧 𝐬𝐚̂𝐮 𝐝𝐚̀𝐲 𝐜𝐮̉𝐚 𝐓𝐡𝐚̂̀𝐲 đ𝐚̃ 𝐠𝐨̛̉𝐢 đ𝐞̂́𝐧 𝐜𝐡𝐨 𝐭𝐚̂́𝐭 𝐜𝐚̉ 𝐜𝐡𝐮́𝐧𝐠 𝐜𝐨𝐧.
(Từ Vô Thường)

Thứ Sáu, 11 tháng 6, 2021

ĐẤT Ở CÓ ĐƯỢC ÔNG BÀ TỔ TIÊN PHÙ HỘ KHÔNG?

 


Rất nhiều người thắc mắc rằng: "Có hay không sự trợ giúp của ông bà, tổ tiên cho con cháu?", và rằng "Có phải vong linh là có thần lực thị hiện ở bất kỳ nơi đâu hay không?", "Nếu là làm ăn, có thờ Thần, Thánh, Trời Phật xứ này, khi đi đến xứ khác liệu có được Phù Trợ? Ứng linh?... Và nhiều câu hỏi tương tự".
Trước tiên ta nên hiểu, với mỗi gia đình, dòng tộc thì sẽ hiện hữu cái gọi là (âm linh gia tộc), người đời vẫn gọi gồm chung là (Cửu Huyền Thất Tổ). Một gia tộc có âm linh đủ lớn tức là (công đức của tổ tiên họ gieo ra đời rất lớn, chứ không phải gia tộc có người làm quan lớn, làm vua chúa, bá hầu thì sẽ lớn).
Và Âm Linh Gia Tộc là cái gì? Có tác dụng gì cho người đương sống hay không?
Vậy thì trong gia tộc đó. Họ sẽ chọn ra một Âm Linh Tề (Âm linh tề là một người nào đó trong gia tộc đã mất đi, nhưng chưa tới hạn kỳ chuyển thế) sẽ làm nhiệm vụ trợ giúp, gia trì cho người trong gia tộc đó, khi thời hạn chuyển luân đến, người giữ trách phận Âm Linh Tề này sẽ trao lại cho người sau.
Việc này vô cùng phức tạp, nhiều tầng bậc, một vài câu nơi này khó mà diễn đạt, giải nói, thầy chỉ có thể lược khái để mọi người có thể trừu tượng về vấn đề ấy mà thôi!.
Vậy thì nôm na vẫn hiểu là (TA SỐNG TRONG ĐỜI VẪN CÓ SỰ NƯƠNG NHỜ TỪ CÔNG ĐỨC CỦA TỔ TIÊN, ÔNG BÀ). Mỗi việc làm của con cháu trong gia tộc sẽ tác động đến Âm Linh Tề.
Nếu làm việc hữu thiện thì Linh Lực Âm Linh Tề được nhiều thêm, đủ mạnh để trợ độ khi cần kíp.
Ngược lại nếu cháu con làm điều ác nghiệp thì Âm Linh Tề bị suy yếu, đến mức rất nhiều gia tộc không còn Âm Linh Tề, hoặc chỉ có một vong linh lang thang, vất vưởng gọi là Âm Linh Tề của gia tộc ấy. Tất cả đều do nhân quả mà có được.


Vậy thì khi ta (Tha Phương Cầu Thực), hay phải đi xứ khác vì hoàn cảnh, vì cuộc sống, cách xa hương quán, quê nhà, thì có còn không sự phù trợ của Âm Linh Tề?
Nếu một người xứ sở ở nơi đây phải sang Mỹ, sang Tây định cư sanh sống thì sự kết nối với Âm Linh Tề thế nào? Có còn không?
Để hiểu được có còn không, ta lại phải hiểu được quy luật kết nối tâm linh của Âm Vong.
Nên phân biệt giữa Âm Vong và Thần Lực, Thánh Pháp.
Âm Vong là những người đã khuất bình thường, không phải thần, tiên, thánh.
Âm Vong thông thường chỉ có thể kết nối qua thức vọng, tức là những người đã quen, những nơi đã đến, những vật đã dùng.
Vậy thì Âm Linh Tề phần nhiều KHÔNG THỂ KẾT NỐI với người bạt xứ, tha hương.
Vì sao? Vì như thầy vừa nói đó, người phụ trách Âm Linh Tề của gia tộc là ai? Ta không biết là ai trong số tổ tiên, thân quyến đã khuất, và vì vậy, ta không phân định rõ họ có (biết) ta chăng?
Nếu là người có (biết) được ta, vậy thì họ có từng đi đến nơi ta đang đến chăng?
Chắc là chưa từng!!!
Tổ tiên chắc không có mấy người đã đến Mỹ, đến Tây.
Do vậy, sự kết nối gần như không thể, thì sự trợ giúp cũng gần như không có.
Vậy thì ta hiểu rằng: Vong linh không phải có thể tùy ý thị hiện, bạt chuyển bất kỳ đâu, mà có giới hạn, có tưởng định.
Đó là phải tạo ra một điều kiện tiên quyết, chính là (LY HƯƠNG BẤT LY CỐ):
1. Đối với người có tổ tiên sống nhiều đời trên mảnh đất đó, có thể lấy một ít đất cho vào chai, lọ, hoặc hũ sành, lư hương, đó sẽ là vật hữu ích để kết nối tâm linh với Âm Linh Tề.
2. Đối với những gia đình có vật truyền lại (những người đời trước vẫn giữ thói quen này truyền cho con cháu, không chỉ là kỷ vật, kỷ niệm, mà nó còn là sợi dây kết nối tâm linh, vì bất kỳ ai trong dòng họ cũng đều thấy qua vật đó, cho nên dù là ai giữ trách Âm Linh Tề đều sẽ phù trợ được cho người giữ vật ấy).
Vậy mà người đời lại không hiểu, mang đi bán lấy tiền tiêu pha, và dù có được món tiền lớn nhưng gia đình, dòng họ lại ngày càng lụn bại, khó khăn. Nếu họ hiểu được không có một giá trị nào có thể mua bán được dù đó chỉ là một cai hủ sành, một cục đá, một cái ghế, cái bàn. Nhưng nó là sợi dây duy nhất!
3. Nếu là người có nhiều đời ly hương, không cố định (dưới ba đời một chỗ), thì có thể dùng tro nhang trong lư hương làm CỐT LINH. (Cốt Linh - Là cách gọi chung của những thứ có thể kết nối tâm linh).
4. Đối với người thờ phụng, lễ bái thánh thần, thì phải có CỐT LINH mang theo kho đến xứ khác làm ăn. Người thờ Phật thì mang theo tượng, theo tranh đã thờ từ trước, người thờ thánh, thần thì mang theo Tượng, theo vật mà được gia trì để làm Cốt Linh, chứ không phải hễ có cúng tế, lễ bái là có chiêu cảm được!
5. CỐT LINH THỂ: Là cách tốt nhất để mang theo bên mình để tạp ứng linh, Cốt Linh Thể là thực thể cụ thể của Cốt Linh đó.
Tỉ dụ: ta thờ Thổ Thần nơi hương quán của ta, nhưng khi ta đi nơi khác không có mang theo được Tượng Thờ, Đền Thờ, thì có thể xin đất trong nơi đó mang theo rồi lập trang thờ,
Nếu là người hành nghề trên sông hồ, biển cả, thì mỗi vùng có một Thủy Thần khác nhau, vậy khi đi từ vùng này qua vùng khác cũng nên mang theo Cốt Linh, là nước của đoạn sông đó, của vùng biển đó, và lập một trang thờ, để được độ trì, để tạo kết nối tâm linh.
Một vài chia sẻ, hy vọng ích hữu cho mọi người, nhất là những người con phải Ly Hương Cầu Thực, sanh sống đơn lẻ nơi đất khách, quê người.


Vậy nên đất ở của ta đang có mà được ông cha giao lại cho thừa kế thì phải giữ vừa có nới để An cư mà Lạc nghiệp và có nơi để Thờ cúng Tổ tiên.
Còn đất mà ta mua được, hay được cấp  và ở; trong thời gian ở tu tạo...thì  sau này cũng chính là ...nơi phát tích cho một dòng họ/hay chi họ đó.  Do vậy  trong dân gian hay truyền câu đất có ''tuần" là vậy  (còn phát về lĩnh vực nào còn do đức độ và  cách sống của gia đình.hay dòng họ đó?  Nếu những người  hay chuyển cư, thay đổi nhiều thì khó ...phát  là vậy?
(ST từ F/b)
 

)

Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021

Nghi thức lạy sám hối 35 vị Phật

 


LỜI KHẤN NGUYỆN HÀNG NGÀY (Trước khi đọc SÁM HỐI 35 VỊ PHẬT)

 

Con xin cung kính lễ lạy:

-Nam Mô Đại Từ Đại Bi Thập Phương Chư Phật; chư Bồ Tát;Tam Bảo khắp mười phương. (3 lần)

-Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)

 

Tri Ân:

Hôm nay lại bước qua một ngày, con tự biết con đã được rất nhiều may mắn, con đã hưởng được tha lực từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát. Đức Từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho, và được chư vị giúp đỡ mà con mới có được ngày hôm nay. Con xin thành tâm thành kính quỳ nơi đây dâng lòng chí thành chí kính tri ân. (1 lạy)

 

Cầu An:

Con xin thành tâm thành kính cầu nguyện sự an lành, an lạc, thanh bình, hạnh phúc cho cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng khắp các chúng sanh hữu tình, vô tình.

 

Con cầu xin thập phương tam thế chư Phật, chư Bồ Tát, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, và chư vị từ bi gia hộ, giúp đỡ để chúng con đồng được sự an lành, an lạc, tu hành đến Tri Kiến Giải Thoát, thoát khỏi sanh tử luân hồi,  (1 lạy)

 

Cầu Siêu:

Con cũng thành tâm cầu siêu cho vong linh cửu huyền thất tổ, cha mẹ, tổ tiên, thân bằng quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp.

Những vong linh liên hệ và không liên hệ đến con,

Những vong linh  con đã lỡ gây hại, sát hại trong quá khứ,

Cho những vong linh tên:………………………..

Cùng những vong linh mất trong chiến tranh, thiên tai, tật bệnh,và vì mọi lý do chưa được vãng sanh.

Con thành tâm cầu nguyện xin tha lực từ bi của mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, Đức từ phụ A Di Đà Phật, Đức Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đức Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, cùng chư vị giúp đỡ để các vong linh được tiếp dẫn về nơi an lạc, siêu sanh Tịnh Độ. ( 1 lạy)

 

Hồi Hướng/Phát Nguyện:

 

Sám hối rồi, nay con xin nguyện tiếp tục tu học, tu hành, hướng tâm tu để thoát khỏi sanh tử luân hồi. Làm việc lợi mình lợi người.

Con xin hồi hướng, chia xẻ Công Đức đến cha mẹ, thân nhân…(tên…) Đến chư Thiên, chư Thần, chư Thánh, chư Hộ Pháp và chư vị đã giúp đỡ cho con.

Đến những vong linh mà con đã lỡ gây hại, sát hại. Cùng tất cả các vong linh chưa được vãng sanh và pháp giới chúng sanh.

Con nguyện dâng lòng thành kính tri ân, quy y Tam Bảo. Cầu xin Chư Phật mười phương, chư Bồ Tát, Đức Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ để con và chúng sanh đồng được duyên lành tu học thoát khỏi sanh tử luân hồi, trên tri ân chư Phật, dưới cứu độ chúng sanh. Chúng con đồng xin nguyện được vãng sanh về Cực Lạc Quốc (3 lạy)

 

Kính Lạy 35 vị Phật:

1. Nam Mô Sa Bà Thế Giới Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
    Qui y Ngài . Con diệt được tội sinh tử trên 10.000 kiếp   (1 lạy)

2. Nam Mô Thượng Phương Hư Không Tạng Thế Giới Kim Cương Bất Hoại Phật
    Qui y Ngài . Con diệt được tội sinh tử trên 10.000 kiếp    (1 lạy)

3. Nam Mô Đông Phương Bảo Nghiêm Thế Giới Bảo Quang Phật
    Qui y Ngài . Con diệt được tội sinh tử trên 25.000 kiếp    (1 lạy)

4. Nam Mô Đông Nam  Phương Long Biến Mãn Thế Giới  Long Tôn Vương Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sinh tử trên 8 kiếp    (1lay)

5. Nam Mô Nam Phương Dũng Biến Mãn Thế Giới Tinh Tấn Quân  Phật
    Qui y Ngài . Con diệt được các ác nghiệp thuộc về khẩu  (1lay)

6.  Nam Mô Tây Nam Phương Hoan Hỉ Thế Giới Tinh Tấn Hỉ Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được các ác nghiệp thuộc về ý  (1lay)

7. Nam Mô Tây Phương Biến Tịnh Quang Thế Giới Bảo Hỏa Phật
    Qui y Ngài . Con diệt được tội phá hòa hợp tăng    (1 lay)

8.  Nam Mô Tây Bắc Phương Diệu Quang Thế Giới Bảo Nguyệt Quang  Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sinh tử trên 1 kiếp   (1lay)

9.  Nam Mô Bắc Phương Cổ Thanh Âm Thế Giới Hiện Vô Ngu Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội hủy báng đại lực Bồ Tát    (1lay)

10.Nam Mô Đông Bắc Phương Quang Nghiêm Thế Giới Bảo Nguyệt Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sát mẹ     (1lay)

11.Nam Mô Hạ Phương Trần Biến Mãn Thế Giới Vô Cấu Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sát cha     (1lay)

12.Nam Mô Thượng Phương Quang Thắng Thế Giới Dũng Thí  Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sát A La Hán    (1lay)

13.Nam Mô Đông  Phương Vô Ngại Thế Giới Thanh Tịnh  Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội với ác tâm làm thân Phật chảy máu    (1lay)

14.Nam Mô Đông Nam Phương Vô Ưu Thế Giới Thanh Tịnh Thí Phật
      Qui y Ngài . Con diệt được tội sinh tử trên 10.000 kiếp   (1lay)

15.Nam Mô Nam Phương Vô Cấu Thế Giới Ta Lưu Na Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội làm ô nhiễm Tỳ Khưu (Ni) cũng như các bậc A La Hán    (1lay)

16.Nam Mô Tây Nam Phương Viên Tịnh Thế Giới Thủy Thiên Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sát Bồ Tát    (1lay)

17.Nam Mô Tây Phương Diệu Lạc Thế Giới Kiên Đức Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sát các bậc hữu học   (1lay)

18.Nam Mô Tây Bắc Phương Hương Biến Mãn Thế Giới Chiên Đàn Công Đức Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội trộm vật của tăng    (1lay)

19.Nam Mô  Bắc Phương Hữu Lực Thế Giới Vô Lượng Cúc Quang Phật
      Qui y Ngài . Con diệt được tội hủy phá tháp Phật   (1lay)

20.Nam Mô Đông  Bắc Phương Diệu Nghĩa Thế Giới  Quang Đức Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được các ác nghiệp do sân hận gây nên  (1lay)

21.Nam Mô Hạ Phương Vô Chướng Thế Giới Vô Ưu  Đức Phật 
     Qui y Ngài . Con diệt được các ác nghiệp do tham trước gây nên   (1lay)

22.Nam Mô Thượng Phương Ly Trước Thế Giới Na La Diên  Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sinh tử trên 10.000 kiếp    (1lay)

23.Nam Mô Đông Phương Trưởng Hoa Thế Giới Công Đức Hoa Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sinh tử trên 10.000 kiếp   (1lay)

24.Nam Mô Đông  Nam  Phương Phạm Biến Thế Giới Tịnh Quang Du Hí Thần Thông Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sinh tử trên 1.000 kiếp   (1lay)

25.Nam Mô Nam Phương Liên Hoa Trang Nghiêm Thế Giới Liên Hoa Quang Du Hí Thần Thông Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sinh tử trên 7 kiếp   (1lay)

26.Nam Mô Tây Nam Phương Bảo Trang Nghiêm Thế Giới Tài Công Đức Phật
      Qui y Ngài . Con diệt được các ác nghiệp do tập khi gây nên    (1lay)

27.Nam Mô Tây Phương Viên Tịnh Thế Giới Đức Niệm Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được các ác nghiệp thuộc về thân    (1lay)

28.Nam Mô Tây Bắc Phương Vô Tướng Thế Giới Thiện Danh Xưng Công Đức Phật
      Qui y Ngài . Con diệt được tội làm trái ý Phật   (lay)

29.Nam Mô Bắc Phương Tịnh Căn Lực Thế Giới Hồng Diễm Đế Tràng Vương Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được các ác nghiệp do tật đố gây nên   (1lay)

30.Nam Mô Đông Bắc Phương Diệu Hỉ Thế Giới Thiện Du Bộ Công Đức Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội sai bảo người khác làm ác nghiệp    (1lay)

31.Nam Mô Hạ Phương Ly Vọng Thế Giới Đấu Chiến Thắng Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được các ác nghiệp do kiêu mạn gây nên   (1lay)

32.Nam Mô Đông Phương Đức Thắng Thế Giới Thiện Du Bộ Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội vu khống   (1lay)

33.Nam Mô Nam Phương Quang Nghiêm  Thế Giới Chu Táp Trang Nghiêm Công Đức Phật
      Qui y Ngài . Con diệt được tội vui với ác nghiệp    (1lay)

34.Nam Mô Tây Phương Thắng  Đức Thế Giới Bảo Hoa  Du Bộ Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội xả bỏ chính Pháp    (1lay)

35.Nam Mô Bắc Phương Diệu Bảo Thế Giới Tu Di Sơn Vương  Phật
     Qui y Ngài . Con diệt được tội  vi phạm các tâm Nguyện Đạo con đã phát nguyện.    (1lay)
 

(Trích từ NXB HỒNG ĐỨC-Xuất bản năm 2014)