Xem Phong thủy-Tử vi ở Hà Nội

NHẬN TƯ VẤN: Xem phong thủy Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng:Chọn hướng tốt. Phòng làm việc; phòng khách; bếp; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Xem tuổi Xây dựng nhà , sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Âm trạch mồ mả tư vấn xem hướng đặt mộ hợp phong thủy, tư vấn đặt mộ trong nghĩa trang. Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới,ngày ăn hỏi. Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.Xem Tử vi để biết vận mệnh cuộc đời; dự báo ngày cưới; dự báo tang ma; dự báo công danh, sự nghiệp, thăng quan, tiến chức.Các đại, tiểu vận trong cuộc đời...Điện thoại: 036.439.6238


Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2020

Con người có Vận Mệnh là thật?




Các môn Huyền học đều nghiên cứu về vận mện con người: Bất cứ ngành khoa học nào cũng phải bắt đầu bằng những tiên đề (Axiom). Đó là những chân lý tự thân đúng, không cần và không thể chứng minh. Ví dụ ngành vật lý thì thừa nhận vật chất và năng lượng là bảo toàn, không tự nhiên mất đi và không tự nhiên sinh ra. Mỗi học thuyết (hay lý thuyết) cụ thể trong một ngành khoa học cũng phải xây dựng trên những tiên đề riêng (còn gọi là định đề - postulate) là những chân lý không thể chứng minh bằng chính lý thuyết đó1. Ví dụ, Thuyết Tương đối của Einstein trong vật lý coi tốc độ ánh sáng trong chân không là cực đại và bất biến theo mọi hướng. Định đề này được rút ra bằng thực nghiệm, còn lý thuyết của Einstein thì không thể chứng minh được tại sao.
Vậy nên, nếu muốn coi bói toán là một khoa học, ít nhất là Khoa học huyền bí, thì tiên đề đầu tiên của bói toán, là phải thừa nhận có một sự sắp đặt trước nào đó của tạo hóa khi một con người sinh ra.
Nói theo ngôn ngữ khoa học, đó là tạo hóa đã lập trình cho mỗi sinh linh khi ra đời và việc bói toán là việc cố giải mã lập trình của tạo hóa. Trong cái gọi là Khoa học huyền bí về bói toán tồn tại nhiều thuyết huyền bí, mỗi thuyết đều phải dựa trên một hay nhiều định đề cơ sở.
 Ví dụ, bói vân tay thì coi vết chỉ tay là dấu hiệu của cuộc đời. Bói mai rùa (Trung Hoa), bói chân gà (Việt Nam), bói lòng lợn (châu Phi) cũng tượng tự. Bói Kiều thì coi 3.254 câu Kiều là chỉ dấu của đời người… Nói chung là rất tùy tiện, không có bài bản gì để bàn luận. Tuy nhiên, nền minh triết Đông Tây hiện nay tồn tại ba học thuyết tiên tri tương đối có bài bản đó là Chiêm tinh học (Astrology), Kinh Dịch, Tử Vi. 3.000 năm trước Công nguyên, người Lưỡng Hà (Vùng Iraq-Syria ngày nay) bắt đầu mày mò nhìn đoán sao trên trời - Chiêm tinh. Họ đã quan sát bầu trời và phát hiện ra chuyển động biểu kiến của Mặt trời tương ứng với vị trí các chòm sao nhất định, có tính chu kỳ hằng năm. Và sau đó, người Babylon tạo ra 12 ký hiệu Hoàng đạo. Người Ai Cập cải tiến nó và đến lượt người Hy Lạp thì hệ Hoàng đạo (Zodiac) đã hoàn chỉnh. Họ đã chia một chu kỳ Mặt trời ra 12 cung (độ dài khoảng 30 ngày) định vị với các chòm sao tương ứng trong một năm. Ngày sinh của một cá thể người là chỉ dấu gắn chặt với cung hoàng đạo, nên đó là cung chiếu mệnh của cá thể đó. Định đề này có thể chấp nhận được. Hơn nữa, thuyết này đã có cơ sở khoa học khá sớm, đó là thừa nhận Mặt trời là một tác nhân chủ yếu đến sự hình thành và phát triển con người. Nhưng khi đi xa hơn, mỗi cung Hoàng đạo lại được gắn cho những thuộc tính nhân tạo, cùng với những tương tác của các cung Hoàng đạo với nhau thì thật là đáng ngờ. Ví dụ, lấy gì để nói rằng Capricornus – Ma Kết (22/12 – 19/1), Virgo – Xử Nữ (23/8 – 22/9), Taurus – Kim Ngưu (20/4 – 20/5) là nhóm Đất. Những người sinh ra trong nhóm Đất rất chung thủy, cần cù, ôn hòa và khoan thai! Và khi lấy đó làm một định đề cơ sở để tiên đoán thời mệnh của con người thì đó là việc hoàn toàn tùy tiện, không thể lý giải. Nhưng đó lại chính là mảnh đất làm ăn của các nhà Chiêm tinh học cổ đại và hiện đại. Dù biết là vô lý như vậy nhưng loài người ngày nay, nhất là giới trẻ vẫn gửi niềm tin vô vọng vào đó.

Ở Phương Đông cũng thịnh hành một kiểu gần giống thuật chiêm tinh nói trên, gọi là Tử Vi. Khởi nguồn muộn hơn, có thể là thế kỷ 10 sau Công nguyên, và được quy cho Trần Đoàn, hiệu là Hi Di, đời Tống sáng tạo ra. Cũng giống như thuật Chiêm tinh Tây phương, Tử Vi cũng coi số mệnh con người được an bài từ lúc chào đời. Lấy ngôi sao ứng với thời điểm chào đời làm sao chiếu mệnh. Thời điểm chào đời tính theo lịch Mặt trăng, mà tên gọi của năm là tổ hợp của 10 can và 12 chi – tức 12 con giáp. Việc thừa nhận ảnh hưởng của vũ trụ và đặc biệt là chu kỳ Mặt trăng đến con người là có tính khoa học. Từ các thông số đó và giới tính, theo một quy trình do con người không dựa trên bất kỳ cơ sở nào để xếp các sao thành một lá số. Đó là điều thứ nhất mang tính áp đặt buộc phải thừa nhận mà không lý giải được vì sao. Cái thứ hai không thể lý giải được là hệ thống sao của Tử Vi đã không theo một quan sát thiên văn nào cả mà hoàn toàn do con người tự đặt ra (Ban đầu theo Hi Di thì có 93 sao, hậu thế thì lại an đến 118 sao). Điều vô lý thứ ba, Tử Vi cũng gán cho mỗi sao mỗi thuộc tính và quy luật tương tác không dựa trên một cơ sở nào cả. Điều này cũng hoàn toàn giống như điều phi lý của Chiêm tinh học khi quy cho mỗi cung Hoàng đạo một thuộc tính. Khi được hỏi cơ sở nào để thừa nhận thì khó trả lời nhưng thừa nhận : theo người xưa truyền lại.
  Phương Đông từ rất sớm đã quan niệm vạn vật từ vũ trụ đến con người là sự kết hợp của âm dương và từ hơn 5.000 năm trước Công nguyên đã xây dựng được một hệ thống biểu diễn toán học của quan niệm tổng quát đó bằng các quẻ của Kinh Dịch. Cổ nhân dùng một nét gạch liền gọi là Dương và một nét đứt đoạn gọi là Âm. Đó chính là Lưỡng nghi, theo toán học ngày nay đó là cơ số hai. Khi chồng hai gạch đó lên nhau, thì thu được bốn tổ hợp, gọi là Tứ tượng, tương ứng 22.Chồng thêm một gạch (liền hoặc đứt) nữa thi thu được tám tổ hợp, gọi là bát quái, tương ứng 23. Chồng hai tổ hợp của bát quái lên nhau, thu được tất cả 64 tổ hợp, gọi là Trùng quái, tương ứng 26. Cho đến đoạn này thì các quan niệm âm dương, xây dựng nên hệ cơ số hai là hoàn toàn khoa học. Đáng tiếc là cổ nhân phương Đông (Trung Hoa hay Việt gì đó) hơn 4.000 năm trước chỉ dừng lại ở 64 quẻ Dịch, không thể đi xa hơn để xây dựng nên Đại số học Nhị phân, cơ sở cho máy tính hiện nay! Trái lại, cổ nhân lại coi chúng như biểu trưng cho sự bí ẩn huyền diệu. Các bậc thánh hiền hậu sinh, mỗi người mỗi cách gửi gắm minh triết của mình vào mỗi quẻ Dịch một bài thuyết giảng, bắt đầu từ Chu Văn Vương viết lời Soán, con là Chu Công viết Hào từ, rồi Khổng tử giải nghĩa thêm gọi là Thập Dực, thế là bộ Kinh Dịch huyền bí hoàn thành, người đời sau cứ thế mà suy luận thoải mái, gọi là giải Dịch. Vì dựa trên hệ nhị phân, giống như đồng tiền có hai mặt quy ước Âm-Dương, nên khi gán một quẻ Dịch cho đối tượng nào thì làm thủ thuật xin quẻ, đơn giản nhất là tung đồng tiền sấp ngửa (Âm hoặc Dương), hoặc rút hay xóc thẻ làm bằng các lóng tre có đốt hay không có đốt. Sau một số lần gieo nhất định thì thu được một quẻ Dịch cho đối tượng đó. Thế là các nhà bói dịch dựa vào các lời thánh hiền viết cho mỗi quẻ mà giải thuyết, không khác gì dân Việt ta bói Kiều, đối tượng tin tuyệt đối! Nội dung của Chu Dịch gồm phần Kinh Dịch là phần về bói toán. Phần thứ hai là Truyện Dịch là giải thích Kinh Dịch đậm chất triết học, nhưng mơ hồ huyền bí lắm. Chỉ có thể bàn về phần bói dịch, rằng việc gán cho mỗi quẻ dịch mang một phần triết thuyết nào đó là không có cơ sở và việc giải đoán nó lại càng mơ hồ. Sau nữa, thủ thuật xin quẻ cho đối tượng dựa trên sự xin quẻ ngẫu nhiên, rõ ràng là thua xa việc dựa trên thời điểm sinh nhật của đối tượng như thủ thuật Chiêm tinh học hoặc Tử Vi sử dụng. Cái duy nhất khả dĩ chấp nhận được trong bói Dịch là quan niệm mọi thực thể vũ trụ, kể cả con người, là chịu ảnh hưởng của vũ trụ và là sự kết hợp âm dương mà phát triển lên [“Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng nghi, nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái định Cát hung, Cát hung sinh Đại nghiệp”].
Như vậy, cả ba thuyết phổ biến về tiên tri bói toán này đều xuất phát từ những quan niệm (hay định đề) tương đối khoa học.

Có thể biết trước được số phận?
Khoa học hiện nay chưa thể lý giải mọi hiện tượng. Vì vậy có lúc cũng phải viện dẫn đến niềm tin để làm cơ sở. Chẳng hạn, có linh hồn hay không? Khoa học không thể phủ định cũng không thể khẳng định. Đa số tin rằng con người bao gồm phần thực thể (Physical) và phần tinh thần (Spirit). Phần tinh thần quá cao siêu, không dám bàn về số phận tinh thần. Vậy chúng ta chỉ bàn về số phận cho phần thực thể mà thôi.
Bốn định đề chính
Nếu loại bỏ những điều phi khoa học, không logic và mang màu huyền bí thì những luận cứ của Chiêm tinh, Tử Vi, Kinh Dịch khả dĩ chấp nhận dưới góc nhìn khoa học có thể tóm tắt thành các định đề dưới đây:
1- Con người sinh ra đã được tạo hóa định mã lập trình (có thể hiểu là số phận).
2- Con người là một thực thể của vũ trụ, do âm dương kết hợp mà thành, chịu ảnh hưởng của vũ trụ trong quá trình hình thành. Mà ảnh hưởng quyết định nhất là Mặt trời và Mặt trăng.
3- Sự phát triển của đời người dựa trên cơ sở lập trình lúc hình thành và biến chuyển liên tục dưới tác động của vũ trụ.
4- Dấu ấn của vũ trụ và mã lập trình được xác định trong khoảng thời gian hình thành lấy thời điểm ra đời (ví dụ lấy ngày sinh) làm mốc.

Theo tuổi tăng lên con người sẽ thay đổi. Những tuổi mà ở đó trạng thái của vũ trụ lặp lại trạng thái ở tuổi tiên thiên (trong phạm vi sai số), thì dù có tạo nên sự biến dịch, cũng vẫn là đồng dạng với mẫu hình như hóa đã ban tặng. Nói đơn giản đó là tuổi những thay đổi đã theo một khuôn mẫu như khi tạo hóa sinh ra, không biến đổi đột xuất. Ta gọi là tuổi Bình yên. Còn nếu ở tuổi mà trạng thái vũ trụ thay đổi so với trạng thái ở tuổi lúc sinh ra, thì con người cũng thay đổi không theo như ban sơ, ta gọi là tuổi Biến dịch.

Các cơ sở khoa học về vật lý thiên văn và y sinh học
Xác định trạng thái Mặt trời - Trái đất - Mặt trăng
Mặc dù con người có thể đo đạc và tính toán chính xác đến từng giây, từng mét từng radian tọa độ vũ trụ của của Mặt trời, Mặt trăng, nhưng ở đây ta chỉ cần dùng đến các quy luật thiên văn chính xác đến ngày mặt trời (Solar day) hoặc ngày thiên văn (sidereal day) là đủ. Vị trí của Trái đất so với mặt trời được đặc trưng bởi quỹ đạo Trái đất quanh mặt trời, là năm mặt trời. Một năm mặt trời có 365,2425 ngày. Con số về ngày tháng Dương Lịch (ngày tây) là chỉ thị gần đúng vị trí của Trái đất trên quỹ đạo. Vị trí của Trái đất và mặt trăng quay quanh Trái đất so với mặt trời được xác định bởi quỹ đạo của mặt trăng quanh Trái đất (có tính đến sự dịch chuyển của Trái đất quanh mặt trời), tức là tháng mặt trăng. Một tháng mặt trăng có 29,53059 ngày. Vị trí của mặt trăng trên quỹ đạo chính là ngày tháng lịch mặt trăng (như lịch của đạo Hồi). Lịch ta là âm dương lịch, cho nên ngày ta thì không chính xác hoàn toàn vì lịch ta đã hiệu chỉnh theo lịch mặt trời bằng cách tính năm nhuận.
Quan sát bầu trời, đo đạc ngày tháng, các nhà thiên văn đã khám phá ra:
a) Chu kỳ 19: 19 năm mặt trời =235 tháng mặt trăng, sai số chỉ 0.003. Nói một cách gần đúng dễ hiểu là trạng thái của bộ ba Mặt trăng-Trái đất-Mặt trời cứ 19 năm lặp lại như cũ. Chu kỳ này khá chính xác, hơn 400 năm mới lệch một ngày, cho nên trong cõi trăm năm người đời có thể coi là trùng lặp tuyệt đối. ( Vì lý do này mà trong lịch pháp, cứ 19 năm dương lịch thì trong 19 năm âm lịch tương ứng phải có 7 năm gồm 13 tháng, tức là 7 năm nhuận). Chu kỳ này có tên là Chu kỳ Meton, đặt theo tên người Hy lạp đã khám phá ra (Meton of Athen,năm 440 trước CN). Chu kỳ Meton là do hai tiểu chu kỳ (chu kỳ con) gần đúng cộng lại:
b) Tiểu Chu kỳ 8 (octaeteris): 8 năm mặt trời = 99 tháng mặt trăng, sai số 1,5 ngày, có nghĩa là cứ 5 năm thì lệch 1 ngày. Tiểu Chu kỳ này ta đặt tên là chu kỳ ÂM.
c) Tiểu chu kỳ 11: 11 năm mặt trời =136 tháng mặt trăng, sai số 1,5 ngày, tức là cứ 7,3 năm lêch 1 ngày. Ta đặt tên tiểu chu kỳ này là chu kỳ DƯƠNG.
Để cho dễ hiểu, nói một cách gần đúng thô sơ, trạng thái của vũ trụ được xác định bời ba con số: Năm Dương Lich, Ngày Dương Lịch (ngày Tây) và Ngày Âm Dương Lịch (ngày Ta). Ví dụ ngày tết nguyên đán Ất Mùi (1/1) năm nay là 19/2/2015, 19 năm sau tết Giáp Dần cũng là ngày 19/2/2034, còn tết Bính Tý 19 năm trước cũng là ngày 19/2/1996. Có nghĩa là trạng thái vũ trụ các năm này lặp lại nhau. Nhưng mà 19/2/2014 chỉ chệch một năm so với 2015 thì lại là ngày 20/1 Giáp Ngọ. Trạng thái vũ trụ không lặp lại. (Các chu kỳ 8 và 11 thì con số không hoàn toàn trùng như vậy vì năm nhuận chỉ hiệu chỉnh theo chu kỳ 19)
Quy ước về tính tuổi: Năm gốc là tuổi số 1 gồm có 9 tháng trước ngày sinh (tuổi mụ) và ba tháng sau ngày sinh (tuổi tây) (Vì thế, hãy tính là tuổi ta cho dễ nhớ, tuy không thật chính xác).

Phải chăng Số phận của con người do Mặt trời định sẵn?3
Trong một nghiên cứu chưa từng có, các nhà khoa học Na Uy phát hiện, những người sinh vào các thời điểm Mặt trời bình lặng có thể sống thọ hơn khoảng năm năm so với những người chào đời lúc Mặt trời hoạt động mạnh mẽ.
Kết luận trên được rút ra khi nhóm nghiên cứu xem xét các dữ liệu nhân khẩu học của những người Na Uy sinh ra trong khoảng 1676 - 1878 cùng với các kết quả ghi nhận quan sát về hoạt động của Mặt trời.
Các chuyên gia nhận thấy, tuổi thọ của những người sinh ra trong các giai đoạn hoạt động tối đa của Mặt trời (đặc trưng bằng các trận phun trào dữ dội) tính trung bình thấp hơn 5,2 năm so với những người chào đời vào thời điểm hoạt động của Mặt trời giảm tới mức tối thiểu.
 Thống kê còn cho thấy, 11 tuổi là tuổi mà các trẻ em nam hết thời kỳ trẻ con (trung tính), chuyển sang phát triển giới tính nam.

Ảnh hưởng của Mặt trăng
Mặt trăng tuy nhỏ hơn Mặt trời nhưng gần Trái đất hơn nên ảnh hưởng của Mặt trăng tới Trái đất mạnh hơn Mặt trời. Ảnh hưởng của Mặt trăng tới Trái đất có tác động không nhỏ tới hoạt động sống của con người. Điều ai cũng biết là chu kỳ Mặt trăng xác định chu kỳ kinh nguyệt của nữ giới.
Tất cả những thay đổi ấy đều được phản ánh trong cơ thể sinh vật và con người. Não phản ứng rất nhạy bén trước những biến đổi đó, gây hàng loạt biểu hiện về tinh thần. Các nhà khoa học khẳng định rằng những ngày trăng non tác động khác với những ngày trăng tròn. Các nhà y học cổ Tây Tạng còn cho rằng: Các bệnh nguy hiểm như tai biến mạch máu não, bại liệt, động kinh, nhồi máu cơ tim, tâm thần kích phát thường xảy ra vào các ngày 4, 8, 11, 15, 22, 29 tháng âm lịch. Dù chưa được khẳng định đúng sai, nhưng ảnh hưởng của Mặt trăng là rất lớn và đặc biệt là phụ thuộc vào tám pha của chu kỳ Mặt trăng.
Một thống kê đã được khẳng định là năm thứ tám (từ 8 tuổi), các em gái bắt đầu phát triển giới tính nữ. Vì vậy chu kỳ tám năm là dành cho Mặt trăng, cho nên gọi là chu kỳ Âm, biểu hiện cho giới tính Nữ.
Thử giải mã sự lập trình của tạo hóa
Tạo hóa sinh ra con người?
Vậy là con người sinh ra (năm số 0) tiếp theo tám năm biến dịch thì đến tuổi (hầu như) bình yên đầu tiên, tám tuổi, cũng là hết một chu kỳ Âm. Hai năm Biến dịch nữa (9, 10) sang năm 11 tuổi lại (hầu như) bình yên, hết một chu kỳ Dương. Năm 19 tuổi là hoàn thành chu kỳ Meton = ÂM+DƯƠNG, là tuổi (tuyệt đối) bình yên, âm dương hài hòa. Có thể xác định Tuổi Bình yên (tính chất chung cho các tuổi “hầu như” hoặc “tuyệt đối” bình yên) của đời người theo công thức :
TUỔI BÌNH YÊN= A x 8 + D x 11, trong đó A và D là những số nguyên dương.
Những tuổi còn lại, không thể khai triển được như trên là Tuổi Biến dịch.
Khi nào thì bước vào tuổi già tự nhiên?
Trong trăm năm đời người thì có đến 66 năm là Bình yên, đó là các tuổi:
8,11,16,19, 22, 24, 27, 30, 32, 33, 35, 38, 40, 41, 43, 44, 46, 48, 49, 51, 52, 54, 55, 56, 57, 59, 60;
62, 63, 64, 65, 66, 67, 68;
70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100.

Trong 66 năm bình yên này có thể chia làm ba đoạn:
-Từ 8-60: có 27 năm bình yên và khá rời rạc, là đoạn tuổi trẻ và trung niên;
-Từ 62-68: có bảy năm liên tục, là đoạn cao niên;
-Từ 70 -100: có 32 năm (và tiếp nữa) liên tục là đoạn tuổi già.
Tuổi 69 là tuổi đặc biệt, vì đó là năm biến dịch cuối cùng. Sau đó là mãi mãi bình yên, chỉ có già dần (lão hóa) mà thôi.

Vậy khi 70 tuổi là bước vào Tuổi già trời định. Từ 69 về trước bao gồm các giai đoạn Tuổi trẻ, Trung niên và Cao niên, gọi chung là tuổi Tráng niên.

Những năm tháng đẹp của tuổi Tráng niên
Nói chung, những năm bình yên trong tuổi Tráng niên là những tuổi ít nhiều đều đẹp, ít phải lo lắng.
Tuổi Bình yên phân thành Tuổi Âm thịnh, Tuổi Dương thịnh và Tuổi Hài hòa
D-A >0: Tuổi Dương thịnh; D-A < 0: Tuổi ÂM thịnh ; D-A=0 : Tuổi Hài hòa
Đối với cả hai giới những tuổi hài hòa đều thuận lợi: 19, 38, 57
Đối với Nữ giới các tuổi âm thịnh là thuận lợi: 8, 16, (19), 24, 27, 32, 35, (38), 40, 43, 46, 48, 51, 54, 56, (57), 59, 62, 64, 65, 67.
Tuổi Đẹp nhất cho Nữ là các tuổi thuần âm: 8,16, 24, 32, 40, 48, 56, 64.
Với Nam giới các tuổi dương thịnh là có ưu thế hơn: 11, (19), 22, 30, 33, (38), 41, 44, 52, 55, (57) 63, 66, 68.
Tuổi Nam nhi rực rỡ nhất là các năm thuần Dương: 11, 22, 33, 44, 55, 66
Tuổi nào thì cần phải cẩn thận?        
Các tuổi biến dịch không phải là hoàn toàn xấu, vì không có các sự biến dịch bổ sung thêm vào sự sắp xếp của tạo hóa thì con người không phát triển đa dạng được. Tác động của môi trường, ngoại cảnh, nội lực, ý chí… cũng không thể thiếu. Tuy nhiên có sự biến đổi mạnh thì cũng phải cẩn thận hơn.
Trong các Tuổi biến dịch cũng có thể định lượng được sự Biến dịch bằng một số đo gọi là mức biến dị. Theo quy luật Vật lý, với cùng một mức độ thay đổi, nếu chuỗi biến dịch liên tục càng dài thì độ biến dị càng thấp. Vì nếu có xảy ra ở một điểm thì sự biến dịch liền sau có thể sửa chữa lại. Vậy độ dài của chuỗi tuổi biến dịch liền nhau đặc trưng cho mức biến dị. Chuỗi càng ngắn thì tác động của mức biến dị càng lớn. Còn những tuổi biến dị đơn độc nói chung là dễ có những đột xuất đáng ngại của đời người, vì một khi có biến dị xảy ra thì không có chu trình biến dị liền kề để điều chỉnh mà phải chờ đến năm biến dịch gần nhất mới có cơ hội điều chỉnh.
Những năm đáng ngại là các năm đơn độc: 23, 31, 34, 39, 42, 45, 47, 50, 53, 58, 61, 69.
Rõ ràng là mức độ đáng ngại của năm đơn độc càng tăng lên khi mà khoảng cách tính đến năm biến dị gần nhất (gọi là khoảng cô đơn) càng dài. Theo cách đó thì có 3 năm như vây, gọi là năm hạn:
Năm hạn: 53, 61, 69. Do mức biến dị lớn nên 53 là năm hạn nặng vì là năm bắt đầu có thay đổi đột biến mạnh nhất ở tuổi trung niên. Tuổi 61 đột biến bắt đầu ở cao niên nên nguy hiểm và 69 là tuổi cuối cùng của đời người có đột biến nên là rất nguy hiểm.
Năm có nguy cơ: 31, 39, 42, 47, 50, 58
Năm lưu ý: 23, 34, 45
Ngoài ra, có thể xác định đoạn tuổi nguy cơ, đó là khoảng mà hai năm có nguy cơ cách nhau gần nhất (chỉ có hai năm).
Đoạn tuổi nguy cơ: 39-42 và 47-50.

Các cột mốc của tuổi già
Từ sau tuổi 69 là chuỗi tuổi bình yên liên tục, mọi thứ mà tạo hóa đã ban tặng sẽ suy giảm (già đi) đều đều theo khuôn mẫu trời định lúc chào đời mà không đột biến. Tuy vậy cũng có những cột mốc đáng lưu ý.
Đối với cả cụ ông và cụ bà:
Mốc người già trở thành như con trẻ, 88 tuổi là đạt điểm đặc biệt, đó là điểm đồng thời thuần ÂM (tổ hợp 11 chu kỳ Âm) hoặc thuần Dương (tổ hợp tám chu kỳ Dương), không phân biệt, giống như khi mầm sống nảy sinh.
Các mốc Âm-Dương hài hòa 76 và 95 cũng đáng chú ý.
Ở ba mốc dị thường này có thể rất tốt cũng có thể rất xấu.

Đối với cụ ông:
Mốc đáng ngại đầu tiên là 72 vì là hậu quả của năm nguy hiểm 61. Tiếp sau là mốc hài hòa 76, thuần Dương 77. Mốc 80 là nguy hiểm,vì đó là hệ lụy một chu kỳ dương của tuổi nguy hiểm 69. Nếu vượt qua được các mốc dị thường 88, 95 thì hy vọng đạt 99 thuần Dương, vượt qua được thì trường thọ trên trăm tuổi.

Đối với cụ bà:
Mốc 77 là nguy hiểm vì là hệ lụy của tuổi nguy hiểm 69. Nhưng 76 và 77 cũng là hai mốc dị thường, có xấu có tốt, nên 77 có thể là rất nguy hiểm cũng có thể không. Tiếp sau đó chỉ còn là các mốc dị thường, cho nên nói chung cụ bà sẽ sống thọ hơn cụ ông cũng là trời định!
Chu kỳ tâm-sinh lý
Một lẽ hiển nhiên là tâm-sinh lý cũng phát triển theo các chu kỳ phát triển của con người. Tâm-sinh lý ở chu kỳ một là trung tính. Giới tính hình thành và phát triển hoàn thiện ở chu kỳ 2, tức 8-16 tuổi ở Nữ và 11-22 tuổi ở Nam. Ở giữa chu kỳ thứ hai này, nữ thập tam (13), nam thập lục (16) đều dậy thì. Muốn có hòa hợp tâm-sinh lý thì tốt nhất là Nam-Nữ cùng chu kỳ phát triển.
Ví dụ lấy nhau ở chu kỳ 3, nữ trong khoảng 17-24 mà kết hôn với nam trong khoảng 22-33 là hợp lẽ trời nhất. Theo nguyên lý đó thì:
Nữ 25-32 hợp với Nam 34-44
Nữ 33-40 hợp với Nam 45-55
Nữ 41-48 hợp với Nam 56-66
Nữ 49-56 hợp với Nam 67-77
Nữ 57-64 hợp với Nam 78-88
Cũng có vẻ buồn cười nhưng đúng là trùng với thống kê y học rằng, Nữ ở tuổi 64 còn Nam thì mãi cho đến 88, tức đến chu kỳ tám của đời người, thì hoạt động sinh dục mới dừng hẳn
Thay cho lời kết
Luận thuyết trình bày trên đây là dựa trên cơ sở tính toán khoa học, không mang chút nào tâm linh, huyền bí gì cả. Một luận thuyết khoa học có đúng không, cần phải qua kiểm chứng độc lập. Ít nhất nó cũng phải giải đoán được những điều đã biết và tiên đoán được những điều chưa biết để tiếp tục kiểm chứng.
Dân gian có câu: 49 chưa qua 53 đã tới, hay Nữ thập tam Nam thập lục. Luận thuyết nêu trên đây lý giải được tuổi cả hai khá tốt. Còn tuổi 49 dân gian cũng cho là hạn, thì tạm lý giải trong khoảng 47-50. Mà thực sự thì tuổi hạn 49 cũng du di trên thực tế.
Trong khoảng 53, 61,69 (có tính đến sai số) thì người ta nhận thấy có nhiều người từ trần ốm đau, bệnh tật nhất.
Trời đất vận chuyển tuần hoàn vĩnh viễn không sinh không diệt, chỉ có cuộc sống hữu hạn của muôn loài là trôi theo một chiều từ sinh đến diệt mà thôi. Phía trước luôn là bí ẩn và ai cũng muốn biết trước điều sẽ xảy ra. Do đó dù thuộc chủng tộc nào, nhóm đức tin nào, tầng lớp nào, trình độ hiểu biết ra sao, muốn hay không, thì với con người, việc tìm cách tiên tri hay tiên đoán mà dân gian gọi là bói toán, là hoạt động đã tồn tại hàng ngàn năm qua cho mãi đến nay và rất đúng?
(Ngô Lê Lợi ST trên mạng f/b)






Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2019

SÁCH THỌ KHANG BẢO GIÁM NÓI VỀ DỤC VỌNG, GÌN GIỮ THÂN THỂ



SÁCH THỌ KHANG BẢO GIÁM NÓI VỀ  DỤC VỌNG, GÌN GIỮ THÂN THỂ
"Tôn chân nhân nói:
- Thân người chẳng phải do vàng sắt đúc thành, mà là cái thân do khí huyết kết thành. Người đối với sắc dục không thể tự tiết chế, thoạt đầu nói là “chẳng trở ngại”, đôi khi buông thả thì [thân thể] đã tổn thương theo thời gian, tinh tủy thiếu hụt, khí huyết suy bại, cái thân phải chết. Bởi lẽ, khí huyết của con người vận chuyển theo sáu kinh (Thái Dương, Dương Minh, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm, Quyết Âm. Đó gọi là “lục kinh”), mỗi ngày chuyển theo một kinh. Sáu ngày bèn trọn khắp sáu kinh. Vì thế, cảm mạo bên ngoài là nhẹ nhất, ắt là sau bảy ngày, đổ mồ hôi rồi sẽ hết bệnh. Đấy là vì khí huyết đã chuyển hết một vòng.

Khi con người dục sự đang nồng, chẳng tránh khỏi tim đập mạnh, toát mồ hôi, thân nóng bừng, thần trí mơ hồ. Ấy là vì các đốt xương mở ra, gân mạch, lỏng lẻo. Tinh tủy đã tiết ra, khí huyết nơi một kinh bị thương tổn. Một kinh đã tổn thương, ắt phải đợi bảy ngày sau, khí huyết mới lại chuyển vận đến kinh ấy thì mới có thể hồi phục như cũ. Kinh Dịch nói: “Thất nhật lai phục”, có nghĩa là phải nghỉ ngơi, dưỡng sức bảy ngày [sau khi đã hành dâm]. Người đời chưa đến bảy ngày đã lại xuất tinh, khí huyết nơi kinh lạc chẳng thể phục hồi như cũ. Đã bị thương tổn, lại bị thương tổn thêm, đến nỗi ngoài là cảm nhiễm, trong thì thiếu hụt, trăm thứ bệnh đều cùng dấy lên. Con người luôn đổ lỗi cho thời tiết, khí hậu, cho rằng bị bệnh là lẽ đương nhiên, chẳng biết nguyên do không phải là một sớm một chiều mà ra! Nguồn gốc bệnh tật là do từ từ tạo thành vì chẳng thể cẩn thận giữ gìn nghĩa lý “bảy ngày giáp vòng trở lại”.

Nay lập hạn chế, hãy nghĩ tới căn bản điều độ dục vọng, gìn giữ thân thể. Thuở hai mươi tuổi, lấy bảy ngày một lần làm chuẩn. Khi ba mươi tuổi, lấy mười bốn ngày một lần làm chuẩn. Lúc bốn mươi tuổi, hãy nên hai mươi tám ngày một lần. Khi năm mươi tuổi, hãy nên bốn mươi lăm ngày một lần. Tới lúc sáu mươi tuổi, thiên quý (tinh thủy) đã tuyệt, chẳng thể phát sanh nữa, hãy gấp nên đoạn sắc dục, dứt bặt chuyện phòng the, kiên cố tinh tủy. Lấy sự thanh khiết, bế tàng làm gốc, muôn vàn chớ nên cho nó tiết ra. Số ngày hạn chế như đã nói trên đây là nói theo hai mùa Xuân và Thu, chứ trong hai mùa Đông và Hạ, [hành dâm vào mùa Hè] sẽ khiến cho hỏa bốc lên hết sức nóng, tinh tiết ra chẳng còn sót gì. Hai là [hành dâm vào mùa Đông] khiến cho Thủy bị cực hàn. Hãy nên bế tinh, tàng khí nghiêm ngặt.

Dẫu trong độ tuổi thiếu niên, cũng nên lấy chuyện đoạn dục làm chủ yếu. Nếu không, lúc hai mươi tuổi, có thể mười bốn ngày một lần. Khi ba mươi tuổi, có thể hai mươi tám ngày một lần. Lúc bốn mươi tuổi, có thể bốn mươi lăm ngày một lần. Tới khi năm mươi tuổi, khí huyết suy giảm hết sức lớn, vào mùa Hạ có thể là sáu mươi ngày một lần. Mùa Đông, hãy nên cẩn thận gìn giữ [chẳng dâm], chẳng để xuất tinh. Bởi lẽ, khí của trời đất và con người được phong bế hết sức kín vào mùa Đông, chuyên để làm cội gốc phát khởi cho mùa Xuân, càng quan trọng hơn mùa Hạ gấp mười lần. Người tuân theo cách thức này, có thể chẳng có bệnh, tăng thọ. Kẻ trái nghịch điều này, ắt sẽ lắm bệnh, giảm thọ."
(Trích từ sách Thọ Khang Bảo Giám do Ấn Quang Đại sư giám định và tăng đính)


Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019

Hưởng hết Phước Báu rồi thì sao?

Sài Gòn 2018

    Kinh nghiệm của những người xem Tướng số,Tử vi... khi xem về công danh và sự nghiệp thường thấy phàm những ai giàu sớm thì thường chết sớm hoặc cuối đời không đâu vào đâu cả. 
    Bây giờ thấy lớp trẻ nó sướng, cái gì trên đời nó cũng hưởng hết rồi mà không tạo ra được phước mới, còn gì nữa mà không chết sớm hay khổ cực cuối đời...?


Trong cuộc sống bây giờ, đàn ông có tiền thì thường sa đọa, nhất là những người trẻ. Vì có tiền trong tay khi còn trẻ, đàn ông thường tìm đến rượu và gái. Tuyệt đối không nằm ngoài hai thứ này, chúng nó luôn đi cùng với nhau, gái rượu rượu gái, 1 đôi bạn thân. Rượu và gái không chỉ cướp đi sức khỏe mà nó còn cướp đi cả hạnh phúc gia đình và sự nghiệp đang thăng tiến. Thử nhìn lại xem bao nhiêu quan chức trong và ngoài nước bị bắt, bị thất thế, bị khống chế đều “vì gái quên thân”. Bao nhiêu gia đình hạnh phúc cũng tan nát đều “vì dâm phục vụ”. Trong phạm trù nhà Phật mà nói, đó gọi là tự đánh mất phước báo của mình.


“Đại phú do trời, tiểu phú do cần”, có người sinh ra trong nhung lụa, có người mở mắt đã là ăn xin, khi sinh ra con người chẳng thể chọn được.


Đó là phước báo. Phước báo có tuần hoàn, có tăng trưởng và có tiêu diệt. Vậy làm thế nào để phước báo được tăng trưởng?
Bill Gates biết làm từ thiện ngay khi kiếm được những đồng đô la đầu tiên từ phần mềm. Khi tài sản chưa là gì so với giới tỷ phú Mỹ, Bill đã nổi tiếng với việc làm từ thiện chuyên cần, không dùng đồ sa sỉ và tiệc tùng nhậu nhẹt. Đến nay tài sản của Bill tăng dần từ vài tỷ lên đến hơn cả 100 tỷ USD, không một ai vượt qua được Bill trong suốt vài thập kỷ qua. Và ông vẫn tiếp tục làm từ thiện đều đều.


Còn ai có phước báo lớn hơn những ông hoàng, bà chúa thời phong kiến khi xưa. Nhưng tại sao hầu hết các triều đại phong kiến đều kết thúc với những cái chết nhục nhã, lẩn trốn và kiệt quệ. Bởi vì hầu hết các triều đại vua chúa, cuối cùng đều đắm chìm trong rượu và gái.
Có thể còn đó những nguyên nhân khác nữa nhưng tựu chung lại nói rằng khi đó phước báo đã hưởng hết rồi!


Trong thực chứng mấy chục năm qua; cũng từng chứng kiến nhiều gia đình bè bạn là đại gia, thậm chí từng là Bộ trưởng, thứ trưởng nhiều ngành nhiều cấp , do ăn chơi, tham nhũng , lợi ích nhóm, cục bộ …. đến cuối đời cũng rơi vào tù hoặc cảnh túng quẫn bần hàn. Bởi vì phước báo họ đã hưởng hết mà không biết cách chăm sóc, vun trồng tạo ra phước báo mới…
Trong cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua biết bao đại gia đã thành kẻ không nhà, đời người chỉ trong một chớp mắt, tất cả đã thành bình địa.


    
Phật dạy con người để giữ được phước báo, tài sản ta kiếm được thì hãy chia thành 4 phần:
1/ Một phần để sử dụng hàng ngày, sinh hoạt và đầu tư kinh doanh.
2/ Một phần để dự trữ phòng khi bất trắc.
3/ Một phần để giúp đỡ bà con quyến thuộc, người nhà.
4/ Và một phần để làm từ thiện, công đức.

Như vậy có tới 2 phần là để làm từ thiện, để cho đi.
Không biết ông Bill Gates có phải là Phật tử không mà lại làm đúng như vậy. Điều ngược đời là muốn giữ được phước báo thì lại phải cho đi thật nhiều, chứ không giống như quan điểm của đại đa số người đời là “anh muốn ôm cả đất, anh muốn ôm cả trời”.
Tôi đã thấy có mấy người bạn họ luôn luôn sẵn sàng làm từ thiện mọi lúc mọi nơi. Nhưng dù rằng còn rất khó khăn trong kinh tế nhưng luôn tự nhủ mỗi năm phải làm từ thiện như in ấn tống kinh sách nhà Phật, cho tiền xây trường học, làm từ thiện... Chắc chăn rằng trong tương lai họ sẽ thành công, và họ sẽ là đại gia mãi mãi. Những người này làm từ thiện với long rất chân thành và tự nguyện.
Làm người.. sợ nhất là hưởng hết phước báo mà không tạo ra phước mới.

      Muốn nhận được thì trước tiên bạn hãy học cách cho đi. Mà không cần có tiền và giàu có mới cho đi và bố thí. Ta không có tiền thì bố thí lời nói chân thành và những việc làm mà có ý nghĩa nhất từ trong gia đình , giúp từ những cái nhỏ nhỏ mà ý nghĩa; thiết thực..!


    Một khi đã hưởng hết Phước Báu rồi thì bệnh tật sẽ kéo đến (oan gia trái chủ đến đòi) và tài sản phá tán …lúc này thì chỉ còn…chờ chết mà thôi?


(Sưu tầm : Tổng hợp từ   Bài giảng Phật -Pháp )


Thứ Năm, 22 tháng 8, 2019

Tại sao khi đi đường dài hay gặp tai nạn và Hóa giải?

Lễ cúng rằm tháng 7/2018 Tại Thanh Lương-Phù Lưu-Lộc Hà-Hà Tĩnh 

      1/Quan niệm về ngày xấu – tốt?

Theo phong tục từ trước tới nay nhiều người thường kén ngày lành tháng tốt để xuất hành, động thổ, đổ bê tông mái, cất nóc, nhập trạch, khai trương, ăn hỏi, rước dâu, ký hợp đồng, hộ liệm, di quan, phá nấm, nhập phủ (hạ huyệt)v.v.Trước là trọn vẹn niềm tin về tâm linh, sau là yên tâm tư tưởng để tiến hành công việc. Do nhu cầu nhiều như thế nên thông tin, sách vở, tài liệu từ xưa tới nay có quá nhiều ( tồn tại rất nhiều mâu thuẫn), Nếu không phải người tinh thông có chuyên môn thì khó tìm được ngày giờ vừa ý (đa thư loạn mục).

2/Một tháng có bao nhiêu ngày xấu?

Ngày nguyệt kỵ mùng 5, 14, 23: một tháng có 3 ngày.
Trong 1 tháng luôn có 3 ngày cộng vào bằng 5
Ngày mùng 5
Ngày 14 gồm 1+4 = 5
Ngày 23 gồm 2+3 = 5
Các Cụ thường gọi là ngày “nửa đời, nửa đoạn”, xuất hành đi đâu cũng vất vả, khó được việc, “mùng 5, 14, 23 đi chơi còn lỗ nữa là đi buôn”
Phi tinh trong cửu cung bát quái : Nhất bạch, nhị hắc, tam bích, tứ lục, ngũ hoàng, lục bạch, thất xích, bát bạch, cửu tử. Trong số cửu tinh thì Sao Ngũ hoàng ( thuộc trung cung ) được cho là xấu nhất, vận sao Ngũ hoàng bay tới đâu mang hoạ tới đó. Cứ theo phi tinh 9 cung lại quay trở về Ngũ hoàng :
Ngũ hoàng 5
5 + 9 = 14
14 + 9 = 23
Đặc biệt nhất là ngày 5 tháng 5 (trùng lặp Ngũ hoàng thổ), người ta thường nói: “nen nét như rắn mùng 5”. Vào ngày mùng 5 /5 âm lịch rắn không ra khỏi Mà, tương truyền ai chặt được đầu rắn mùng 5 ra đường sẽ gặp nhiều may mắn. Bởi vì thời gian đó phương lực ly tâm từ Trái Đất kết hợp với lực hấp dẫn từ Mặt Trăng, hướng tâm từ Mặt Trời và Vũ trụ không bình thường gây cho Rắn run sợ, ù tai, hoa mắt không dám ra ngoài.
Còn có sách Cổ gọi là ngày Lý Nhan :
Niên niên nguyệt nguyệt tại nhân gian
Tùng cổ chí kim hữu văn tự
Khẩu khẩu tương truyền bất đẳng dấu
Vô sự vu tử chi xã tắc
Lý nhan nhập trạch táng 3 nam
Mùng 5 phạm ly tán gia trưởng
14 phùng chi thân tự chướng
23 hành thuyền lạc thuỷ lâm quan sự
Giai nhân Mộ khán nhị thập tam.
( Bất lợi kỵ cưới gả, đi xa )

Ngày Tam Nương sát
: một tháng có 6 ngày.
Thượng tuần sơ Tam dữ sơ Thất ( đầu tháng ngày 3, ngày 7 )
Trung tuần Thập tam Thập bát dương ( giữa tháng ngày 13, ngày 18 )
Hạ tuần Chấp nhị dữ Chấp thất (cuối tháng ngày 22, 27 )
(Riêng ngày 27 dùng được vì 2+7=9 số lớn nhất trong 10 số từ 0-9; Số 9 đẹp hơn vì nó là biểu tượng của sự vĩnh cửu, hoàn thiện và thịnh vượng trong nhiều nền văn hóa, tôn giáo. Về mặt ý nghĩa, nó tượng trưng cho sự trường thọ, quyền lực, sự cao cả và trí tuệ, đồng thời có tính chất đặc biệt trong toán học là kết quả cộng của hai chữ số bất kỳ luôn bằng 9, thể hiện sự bền vững) Tháng nào cũng vậy.

Và có rất nhiều ngày xấu khác:
Ngày Tứ Ly: Một năm có 4 ngày Tứ Ly là trước một ngày những tiết xuân phân, hạ chí, thu phân, đông chí. Vào ngày Tứ Ly thì vận khí thường suy kiệt, không nên làm bất cứ việc gì quan trọng vì sẽ có những ảnh hưởng không tốt khiến công việc tiến hành gặp nhiều khó khăn, bất trắc

Ngày Tứ Tuyệt: Ngày tứ Tuyệt chính là ngày tận cùng của mỗi mùa, trước một ngày những tiết Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu và Lập Đông. Vào những ngày này tiến hành việc gì cũng không được thuận lợi, gặp nhiều khó khăn và bất trắc.

Ngày Tứ Quý Kỵ: Mùa Xuân kỵ ngày: Kỷ Tỵ, Ất Dậu. Mùa Hạ, Thu, Đông kỵ ngày Ất Mão, Kỷ Thân, Canh Thân, sao Tỉnh, Trực: KIẾN, TRỪ,PHÁ

Ngày Tam Cường: Tháng 1 &  tháng 6: kỵ ngày 8/18/23

Ngày Dương Công Kỵ: Tháng 1: Ngày 13/ Tháng 2: ngày 11, /Tháng 3: Ngày 9/ Tháng 4: Ngày 11/ Tháng 5 ngày 5/ Tháng 6 ngày mùng 3/Tháng 7 ngày 11, 19/Tháng 8 ngày 27/ Tháng 9 ngày 25/ Tháng 10 ngày 23/ Tháng 11 ngày 21/ Tháng 12 ngày 29

Ngày Xích Tòng Tử Hạ Giáng Kỵ: Tháng 1: Ngày 7,11/ Tháng 2: ngày 9,19, /Tháng 3: Ngày 15/16 Tháng 4: Ngày 9,22/ Tháng 5 ngày 9,14/ Tháng 6 ngày mùng 10,20/Tháng 7 ngày 8,23/Tháng 8 ngày 18,29/ Tháng 9 ngày 2,30/ Tháng 10 ngày 1,14
Ngày Kim Thần Sát- Ngày Không vong-Ngày Sát chủ- Ngày Thọ tử….
Những ngày kỵ trên; Theo quan niệm của dân gian và của  nhiều người thì xuất hành hoặc khởi đầu làm việc gì đều vất vả không được việc và  làm cho bỏ bê công việc, đam mê tửu sắc, cờ bạc v.v. Không làm mà nghỉ chơi?

Cũng là lời khuyên răn của Tiền Nhân cho con cháu nên làm chủ trong mọi hoàn cảnh, chịu khó học tập, cần cù làm việc.

Trong khoa Chiêm Tinh thì ngày Tam nương, Nguyệt kỵ không được cho là quan trọng so với các sao chính tinh và ngày kiêng kỵ khác như : Sát chủ, Thụ tử, Trùng tang, Trùng phục, Không sàng, Không phòng, Thiên tai địa hoạ, Trời nghiêng đất lở, Hoang ốc, Thiên hình hắc đạo, Chu tước hắc đạo, Bạch hổ hắc đạo, Thiên lao hắc đạo, Huyền vũ hắc đạo, Câu trận hắc đạo, Dương công kỵ, Thập ác đại ma, Lục nhật phá quần. v.v..

3/Cách chọn ngày lành tháng tốt và hoá giải những điều kiêng kỵ ( nếu gặp phải ) :

a/Cách hóa giải thứ nhất: Cho “bách việc”
Cùng 1 giờ 1 ngày như nhau kẻ thắng người bại, kẻ cười ngưòi khóc, Sinh, Tử Hiếu, Hỷ song song . Người nhậm chức, người thoái quan. Người Thi đỗ, người thi trượt. Người bán đắt (có lộc), người mua đắt (mất lộc).v.v.
Từ xưa tới nay chưa bao giờ có ngày giờ thật tốt ( ngày lành tháng tốt ) hoặc thật xấu cho mọi người, mọi việc. Vì nếu thật sự có ngày giờ tốt ấy thì không có người mất thì có ai được? không có người thua thì sao có người thắng ? thì ngày đó lại là ngày xấu.
Ngày giờ tốt xấu chỉ ảnh hưởng tới từng công việc, từng tuổi nào liên quan đến nó mà thôi.
Cho nên khi chọn ngày lành tháng tốt phải biết rõ tính chất từng công việc, tuổi Chủ nhân, 24 tiết khí, phong tục tập quán, thông thạo Lý số, Nhâm Cầm Độn Toán mới quyết định được.
Có người cứ máy móc mua về mấy quyển sách giở ra tra, tốt chưa thấy đâu nhiều khi lại gặp điều tối kỵ như : Thượng lương, đổ bê tông mái nhà chiều tối ,hạ thuỷ tàu thuyền ngày nước ròng (chân triều), rước dâu nửa đêm tháng 7 mưa ngâu, bốc mộ buổi trưa mùa hạ, lập đàn cúng tế ngày sát sư, bệnh nhân, sản phụ mổ cấp cứu còn chờ ... sáng trăng (Thầy bấm).v.v. Là nên tránh.
Thí dụ : Khi xem làm việc gì tham khảo ngoài những sao xấu, ngày xấu chung đã kê ở trên thì phải chú ý điều tối kỵ cho từng việc như :
Nếu Việc bốc Mộ, khâm liệm, di quan, hạ huyệt kỵ nhất ngày giờ trùng tang (cải mả gặp trùng tang như trồng Lang gặp gió bấc ).
Nếu Động thổ, hạ móng, đổ bê tông mái, cất nóc, tân gia, ăn hỏi, rước dâu,nhập phòng, kỵ nhất ngày Không sàng, không phòng, cô thần, quả tú, giá ốc ...
Hạ thuỷ tàu thuyền phải chọn ngày theo con nước sinh, đỉnh triều.
Lập đàn lễ bái kỵ ngày sát sư, không vong. v.v.
Là nên làm. Cứ như thế suy ra những việc khác.

Sau đó chọn những ngày giờ tốt, tránh xấu như sau :

Tránh những ngày giờ xấu như ; Sát chủ, Thụ tử, Trùng tang, Trùng phục, Không sàng, Không phòng, Thiên tai địa hoạ, Trời nghiêng đất lở, Hoang ốc, Thiên hình hắc đạo, Chu tước hắc đạo, Bạch hổ hắc đạo, Thiên lao hắc đạo, Huyền vũ hắc đạo, Câu trận hắc đạoDương công kỵ, Thập ác đại ma, Lục nhật phá quần. v.v..

b/Cách hóa giải thứ 2: “cho những người đột xuất đi xa nhà, đi xe đường dài”

Những khi phải rời xa gia đình đột xuất hoặc chủ định từ trước và những người lái xe ra  khỏi địa bàn cần chú ý:
-Trên đường đi phải chấp hành Luật giao thông đường bộ: đèn tín hiệu giao thông, nhắc nhở mỗi người khi tham gia giao thông cần tuân thủ tín hiệu đèn và chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông để đảm bảo an toàn cho mình và cho cộng đồng.
-Khi đi xa nhà: Người phải “chay tịnh” không được gần gũi vợ.

-Trước khi ra khỏi nhà phải có lễ báo cáo Thổ công và gia tiên (Và cúng Phật với gia đình có ban thờ Phật)  theo bài khấn đơn giản; khi về có lễ báo cáo hoàn thành chuyến đi.
Bài khấn đơn giản:
+ Bài cúng Phật (gia đình có Ban thờ Phật)

BÀI CÚNG PHẬT TẠI GIA

Nam mô A di đà Phật. ( 3 lần)

Con xin kính lạy  các chư Phật, chư đại Bồ Tát, chư hiền Thánh tăng và các linh thần Hộ pháp ở khắp mười phương.

Hôm nay ngày …..tháng…….năm ……
Đệ tử con tên là:……………………………
Địa chỉ:…………………………………

Con cúi xin mười phương  tất cả chư phật, chư đại Bồ tát, chư hiền thánh tăng ở khắp mười phương chứng giám lòng thành của chúng con. Con cúi xin Tam Bảo gia trì Phật lực cho các vong linh gia tộc họ ………… chúng con được phát tâm tỉnh giác, lìa khổ vô minh, khởi niệm từ bi, xa rời đường dữ, đi sâu Tam Bảo, sinh cõi Phật an vui. Khắp nguyện cầu cho quốc thái dân an, kẻ mất siêu thăng, người còn phúc lạc, chúng sinh được thấm nhuần mưa pháp, mọi người đều chứng ngộ phật thừa.

Con cúi xin Tam Bảo phù hộ độ trì cho gia đình chúng con được phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiệu tan bốn mùa không hạn ách nghĩ lo. Cho con của con khoẻ mạnh, thông minh, học hành tấn tới, văn hay chữ tốt, thi cử đỗ đạt, ngoan ngoãn biết nghe lời.
Hôm nay là ngày…tháng ….năm ….con xin báo cáo đi đến địa điểm:………..còn cầu mong   “các chư Phật, chư đại Bồ Tát, chư hiền Thánh tăng và các linh thần Hộ pháp ở khắp mười phương” phù hộ cho con đi trên đường trường đi đến nơi đến chốn
 Vạn sự bình an

Con xin thành tâm đảnh lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.
Nam mô A di đà Phật. ( 3 lần)

+ Bài cúng Thổ công_ Gia tiên (gia đình có Ban thờ Thổ công và Gia tiên)
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
 - Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
- Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vi Tôn thần.
- Con kính lạy ngài Đông Thần quân
- Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long Mạch
- Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần
- Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần
- Con kính lạy:  các Tôn thần cai quản trong khu vực này.
- Con kính lạy:  Gia tiên dòng họ (2 bên nội ngoại) thờ trên Ban thờ….
Tín chủ (tên ) con là:……
Địa chỉ tại:………………
Hôm nay là ngày…… tháng…… năm…., tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án. Chúng con thành tâm kính mời: ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ địa. Long Mạch Tôn thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này và Gia tiên dòng Họ……... Cúi xin các Ngài nghe thấu lời mời thương xót thương tín chủ giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc công việc hanh thông. Người người được bình an, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con  kính mời các vong tiền chủ ở trong nhà này, đất này về cùng hâm hưởng lễ vật.
 Chúng con có chút lễ mọn và tấm lòng thành kính dâng các Quan và Ông, Bà tổ tiên . Mong được Các Quan và Ông , Bà vui lòng thụ lễ  và phù hộ cho gia đình chúng con hôm nay (hoặc ngày….tháng…năm….) con xin phép về địa chỉ (hoặc chở khách đến địa chỉ)……….Được an toàn may mắn và thượng lộ bình an trên suốt hành trình.
  Chúng con xin đội ơn-
Nam Mô A Di Đà Phật. (Vái 3 lần)

 

4/ Phương pháp: Phép quyền biến trong việc chọn ngày chọn giờ

 

Phép quyền biến trong xuất hành:
Có việc phải đi xa nhưng vướng phải ngày xấu, không thể đợi đến ngày tốt mới đi, phải chọn giờ tốt để xuất hành. Nhưng nếu đợi giờ tốt thì lại bị nhỡ tâu, xe thì phải chọ hướng tốt mà đi. Nhưng nhà ở thành phố chỉ có mỗi một cửa ra đường không có thếm cửa khác để lựa chọn thì ta phải chọn phép quyền biến. Trong việc xuất hành phép quyền biến này có tên gọi là thuật "Tứ tung, ngũ hoành".
Thuật tứ tung ngũ hoành là: Trước khi xuất hành đứng nghiêm trước cổng chắc lưỡi đúng 36 lần, rồi dùng ngón tay trỏ vạch trong không khí bốn đường dọc (tứ tung); rồi vạch tiép 5 đường ngang (ngũ hoành); vạch xong niệm thần chú cầu xin thần linh phù hộ ngăn trừ tà ma ác quỷ quấy nhiễu dọc đường, giúp đi đường bình an, hoàn thành tốt công việc, trở về an lành. Niệm xong quyết tâm bước chân ra đi, trong vòng 200 bước đầu tiên không được không được quay đầu lại.


Quyền biến trong xây dựng nhà cửa:
Khi mọi việc chuẩn bị đẻ xây nhà đã xong nhưng vì chủ nhà lại rơi vào tuổi Kim lâu, hoặc chọn được ngày tốt nhưng lại không hợp với mệnh của người chủ sự... Những khi đó phải dùng phép quyền biến trong xây dựng nhà cửa.
Phép quyền biến trong xây nhà là mượn (nhờ) người hợp tuổi, không vướng kim lâu để đứng ra làm chủ giúp mình trong khấn vái thần linh. Khi làm nhà xong lại biện lễ, báo cáo lại với gia thần, gia tiên để hợp thức hóa về mặt âm.

 

Phép quyền biến trong hôn lễ:
Khi đón dâu về nhà chồng, thông thường phải đúng giờ hoàng đạo, nhưng có thể do đường xá xa xôi, ách tắc giao thông, tầu xe trục trặc… nên cô dâu về đến nhà đã quá mất giờ đã định; hoặc vì điều kiện hoàn cảnh cụ thể buộc phải làm hôn lễ vào những tháng phụ mẫu... Khi đó phải áp dụng phép quyền biến trong hôn lễ.
Sử dụng phép quyền biến trong hôn lễ là cha, mẹ chú rể tạm lánh mặt ít phút (sang nhà hàng xóm, ra sau nhà… miễn là tránh không để cô dâu và đoàn nhà gái thấy mặt ở trong nhà lúc họ bước vào). Đợi đến khi đoàn đưa, rước dâu đã yên vị trong nhà thì bố mẹ chồng mới trở về và tiếp khách bình thường.

 

Phép quyền biến trong an táng
- Thừa hung mai táng có nghĩa là thừa lúc vận đen (chẳng có thể đen hơn) , nhân lúc vừa mới mất thì đem chôn ngay không cần lập hướng, khai sơn, không cần chọn ngày, chọn giờ, chỉ cần làm lễ, xong trong ngày chôn rồi đợi đến ngày thanh minh đắp đất thêm cho mộ và làm lễ tạ mộ.
- Thừa loạn mai táng: (mai táng lúc các thổ thần đang bận rộn) chôn cất mai táng người chết trong khoảng sau tiết Đại hàn 5 ngày cho đến trước tiết Lập xuân, từ 23 tháng chạp đến 29, hoặc 30 tết, có thể mai táng ngay không cần chọn ngày vì khi đó các thần bận rộn. Vả lại cũng không thể để người mất đến sau tết mới đem chôn, như vậy còn đem lại vận xấu hơn là sự quở trách của các thần mấy ngày trước tế.

 

Phép quyền biến còn thể hiện ở cách chọn ngày một cách linh động. Thực tế bất cứ ngày nào cũng đền có sao tốt và sao xấu. Nên phải tùy việc dự định làm để xem và chọn ngày. Miễn là ngày được chọn không xấu cho việc mình định làm. Trừ khi xấu quá thì bó không làm vào ngày đó. Nếu xấu vừa và không thể thực hiện việc định làm vào ngày khác được thì tìm cách chế hóa như đối chiếu thêm ngũ hành sinh khắc ra sao? ngày đó thuộc trực gì, ngày có sao gì thuộc bộ sao nhị thập bát tú để định luận tốt xấu.


5/Đối với công việc hệ trọng như động thổ làm nhà-Lấy vợ lấy chồng-Mua Tài sản lớn –sang cát …thì nên thực hiện TỔNG HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP thì sẽ đạt hiệu quả tốt hơn.
 Nguyên nhân chính là trước khi đi xa chưa có lễ báo cáo Thổ công và Gia tiên tại gia cho và một số kiêng kị khác nên hay xẩy ra tai nạn đường dài.
Kể từ khi Đức Phật ra đời và Hoằng hóa Phật-Pháp trong 49 năm ; Ngài thường dậy Phật tử và mọi người là « thực nghiệm và  thực chứng » ; Vậy hãy làm đi và sẽ thấy sự linh ứng ? 
  (Ngô Lê Lợii- Hà Nội- 22/8/2019)