Xem Phong thủy-Tử vi ở Hà Nội

NHẬN TƯ VẤN: Xem phong thủy Dương trạch tư vấn Nhà ở; Công trình; Văn phòng:Chọn hướng tốt. Phòng làm việc; phòng khách; bếp; phòng thờ; phòng ngủ; phòng tắm... hợp phong thủy. Xem tuổi Xây dựng nhà , sửa nhà; chọn ngày tốt để khởi công, động thổ; nhập trạch. Xem ngày khai trương.Âm trạch mồ mả tư vấn xem hướng đặt mộ hợp phong thủy, tư vấn đặt mộ trong nghĩa trang. Xem tuổi lấy chồng, lấy vợ. Xem ngày cưới,ngày ăn hỏi. Đặt tên cho con; Chọn năm để sinh con. Chọn số, biển số đẹp cho: ô tô; xe máy; điện thoại. Chọn màu sắc hợp tuổi và bản mệnh.Xem Tử vi để biết vận mệnh cuộc đời; dự báo ngày cưới; dự báo tang ma; dự báo công danh, sự nghiệp, thăng quan, tiến chức.Các đại, tiểu vận trong cuộc đời...Điện thoại: 036.439.6238


Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2024

Tu tập Bát chánh đạo chính là tu tập Thân - Khẩu - Ý

 


PHÁP TỈNH ĐIỀN
Tỉnh là TỈNH THỨC ai ơi!
Điền là RUỘNG PHƯỚC quay về tự thân.
Tỉnh (井) được hiểu là cái "Giếng nước"
Điền (田) là "Ruộng"
Chữ Tỉnh (井) gồm có 9 ô:
Tám ô xung quanh là ruộng đất chia cho 8 gia đình, gọi là tư điền. Ô thứ 9, ở giữa có cái giếng, gọi là công điền.
Tám gia đình xung quanh, cùng ăn uống sử dụng nước ở cái giếng (tâm) chung ấy, lại cùng khai thác thửa ruộng công điền ấy để nộp lợi tức cho triều đình (BẢN TÂM). Còn phần tư điền bên ngoài, làm được bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.. (Phước thăng/ Nghiệp đọa).
Tám gia đình xung quanh được ví như là BÁT CHÁNH ĐẠO (8 Thánh Đạo). Bát chánh đạo là con đường chân chánh có tám chi, giúp chúng sanh hướng đến một đời sống cao thượng, hạnh phúc. Bát thánh đạo là tám phương tiện vi diệu đưa chúng sanh đến đời sống an lạc, giải thóat, tiến đến địa vị giác ngộ.
Tám gia đình gồm:
1-Chánh kiến: Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý trên căn bản của trí tuệ, không còn vướng bụi của tà kiến, mê lầm vọng chấp.
2- Chánh Tư Duy: Tư duy là suy nghĩ. Chánh tư duy là suy nghĩ chân chánh, là suy nghĩ không trái với lẽ phải, có lợi cho mình và cho người.
3- Chánh ngữ: Ngữ là lời nói. Chánh ngữ là lời nói chân thật không hư dối, có lợi ích chính đáng, công bình, ngay thẳng và hợp lý. Lời nói không làm tổn hại đến đời sống cùng danh dự của người khác.
4- Chánh nghiệp: Nghiệp gốc từ chữ Phạn được Trung hoa dịch ra, có nghĩa là hành động có tác ý. Chánh nghiệp nghĩa là hành động tạo tác trong đời sống cần phải sáng suốt chân chánh.
5- Chánh mạng: Mạng là sự sống, đời sống. Đời sống chân chánh nghĩa là sống một cách chân chánh bằng nghề nghiệp lương thiện, chính đáng không bóc lột, xâm hại đến lợi ích chung của người khác.
6- Chánh tinh tấn: Tinh tấn là siêng năng, chuyên cần. Siêng năng chuyên cần chân chánh thẳng tiến đến mục đích và lý tưởng mà Phật đã dạy. Hăng say làm những việc chính đáng mang lợi ích cho mình và cho người.
7- Chánh niệm: Niệm là ghi nhớ, nhớ nghĩ. Nhớ nghĩ chân chánh. Chánh niệm có 2: Chánh ức niệm và chánh quán niệm. Ức niệm là nhớ nghĩ đến quá khứ, những chuyện đã qua. Quán niệm là quán sát cảnh hiện tại và bắt đầu của tương lai.
8- Chánh định: Định trong Phật học hiểu là Thiền định. Định nghĩa là tập trung tư tưởng tu tập thiền định. Chánh định là tập trung tư tưởng vào vấn đề chính đáng, đúng chân lý, lợi mình và người.
Tóm lại: Bát Chánh đạo chính là phương pháp tu phổ biến cho tại gia lẫn xuất gia, trong bất cứ hòan cảnh, môi trường cũng có thể thực hiện được.
Vậy thì giếng TÂM ở giữa vẫn luôn là chủ nhân và là nguồn gốc của sự sống của tám hộ gia đình làng xóm xung quanh. Ông chủ (tâm) luôn công bằng bình đẳng, không thêm không bớt.. Ai cần lấy nước thì mang đi và giếng vẫn bù đắp nước trở về trạng thái ban đầu vốn có.
Không ai lấy thì nước vẫn như vậy (tự đầy đủ) không bị tràn ra ngoài (không mất). Giếng nước (tánh) và các hộ (các căn) xung quanh vốn liên quan rất mật thiết với nhau, luôn nhu nhuyến thuận hòa trong môi trường Tỉnh Thức và hỗ trợ cho nhau để có sự cân bằng giữa Thân (8 hộ gia đình) và Tâm (giếng nước) luôn phát triển hài hòa (tinh tấn trong chánh niệm) gọi là THÂN TÂM AN LẠC.
Tu tập Bát chánh đạo chính là tu tập Thân - Khẩu - Ý của chúng ta, khi thực hành Bát chánh đạo thì gặt hái nhiều kết quả tốt.
Bát chánh đạo là nền tảng chánh giác, là căn bản của Giải thoát - Giác ngộ.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
(TỪ f/b)

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2024

Tổ phó tổ dân phố 33 phường Trung Hòa gương mẫu ; nhiệt huyết

 

(Bà Tôn Thị Biểu Thành) 

    Với vai trò là tổ phó tổ dân phố ; chi hội phó chi hội phụ nữ và thành viên ban công tác mặt trận tổ dân phố 33  phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Bà Tôn Thị Biểu Thành (sinh 1952) luôn gương mẫu; trách nhiệm; dành nhiều tời gian tuyên truyền ; vận động các hộ dân thực hiện đúng các chủ trương của Đảng chính sách pháp luật của nhà nước và thành phố Hà Nội.

 Mặc dù sức khỏe có hạn, tuổi cao nhưng Bà luôn năng động và giàu tâm huyết với công tác của công đồng.

Từ những năm đầu  được bầu là Tổ phó tổ dân phố;  từ năm 2014 sau khi thực hiện đề án 06 của thành ủy thành phố Hà Nội sáp nhập 2 tổ dân phố 4 và 5 thành tổ dân phố 33 ; Bà được Nhân Dân trong tổ bầu là tổ phó tổ dân phố, nhận thêm nhiệm vụ chi hội phó phụ nữ; thành viên trong Ban công tác mặt trận.

 Bà đã tâm sự là: “ Nay nghỉ hưu được Tập thể Ban chi ủy và Nhân Dân tín nhiệm và  tham gia công tác xã hội nên bây giờ có điều kiện phải tích cực tham gia công tác xã hội để động viên, giúp đỡ các các gia đình trong cụm dân cư,  nên phải có tâm huyết với công tác được giao…”. Bà Thành  đã tham gia nhiều ý kiến xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động của Tổ dân phố, Chi hội phụ nữ, Ban công tác mặt trận và tổ hòa giải Nhân Dân .

Gia đình Bà Thành  cũng là gia đình chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước, luôn là “Gia đình văn hóa”, Bà luôn tạo được mối gắn kết tình làng, nghĩa xóm bền chặt, đi đầu trong việc thực hiện các phong trào do địa phương và khu phố phát động.

Bà Thành  là người đảm đang trong công việc gia đình, một con người chất phát, thẳng thắn, thật thà. Trong công tác xã hội Bà rất chủ động, tích cực đi sâu, bám sát các hộ gia đình, tuyên truyền, vận động, phối hợp chặt chẽ các ban, ngành, đoàn thể của khu phố, vận động từng hộ gia đình, xây dựng nòng cốt điển hình tiên tiến, phát triển hội viên phụ nữ, vận động ủng hộ quĩ Tổ dân phố, chi hội khuyến học, trên tinh thần trách nhiệm tự nguyện chăm lo cho công tác của tổ dân phố, khuyến học…. Từ khi quĩ  của tổ dân có vài triệu  quĩ đã có số dư trên 30 triệu đồng để làm quĩ của tổ , trong đó có công đóng góp không nhỏ của Thành.

Trong công tác hoạt động ngày Quốc tế thiếu nhi, ngày rằm Trung thu được tổ chức hàng năm ở tổ dân phố, Bà Thành  là thành viên tích cực đã cùng một số chị em chuẩn bị và trao tặng hàng trăm phần quà cho các cháu  của tổ dân phố.

Hàng năm mọi công việc của tổ dân phố như đi kiểm tra dịch bệnh, thông báo, qui định của trên phường đưa xuống, đi thu thuế đất… Bà Thành  cùng Tổ trưởng dân phố không kể ngày đêm đi đến từng hộ phổ biến, phát thông báo, thu thuế, phí kịp thời đúng, thời gian qui định. Trong công tác hội phụ nữ, bà Thành  đã tích cực vận động phát triển hội viên ; các phong trào thi đua mà Hội phụ nữ phường phát động triển khai đến chị em phụ nữ trong chi hội phụ nữ của tổ dân phố.

 Bà  là tổ phó dân phố luôn  rất nhiệt tình với công việc và gương mẫu trong mọi công việc chung, sống thẳng thắn, thật thà, khi giải quyết công viêc và vận động Nhân Dân các việc đều  có tình, có lý được Nhân Dân   tin yêu và mong muốn Bà tiếp tục cống hiến làm tốt công tác xã hội và gương mẫu  thực hiện tốt quy ước xây dựng “Tổ dân phố văn minh - an toàn - sạch đẹp”, duy trì trật tự mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội, vệ sinh môi trường.

Bằng chính những việc làm cụ thể, thiết thực và lòng nhiệt huyết của bản thân, trong những năm qua, Bà Tôn Thị Biểu Thành  đã góp phần thúc đẩy phong trào của tổ dân phố có hiệu quả và đi vào nề nếp xứng đáng là tấm gương sáng trong công tác cộng đồng dân cư để mọi người  học tập noi theo.

(Ngô Lê Lợi- Hà Nội ngày 8 tháng 3 năm 2024)

Nhà giáo Lê Thị Hương tấm gương sáng trong khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập


(Ảnh nhà giáo Lê Thị Hương ) 

    Với phẩm chất đạo đức vốn có của người Giáo viên nhân dân và kinh nghiệm làm công tác khuyến học khuyến tài, xây dựng Gia đình học tập ở tổ dân phố, mấy năm qua Cựu giáo chức Lê Thị Hương chi hội  phó  khuyên học tổ dân phố 33 được học sinh, phụ huynh quý mến, trân trọng vì có công sức phong trào gây quĩ ;  gây dựng gia định học tập, tổ dân phố học tập; khơi dây niềm đam mê học tập của con em Nhân dân trong tổ dân phố.

         Nhà giáo Lê Thị Hương  năm nay 60 tuổi, đã có nhiều năm là giáo viên giảng dạy  ở trường Tiểu Học, THCS, THPT Thực Nghiệm Viện  Khoa Học Giáo Dục Việt Nam. Bà nghỉ hưu, sống cùng gia đình tại Tổ dân phố 33 phương Trung Hòa quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội.

         Trong thời gian giảng dậy bà nhận được biết bao tình cảm, lời động viên chúc mừng, khen ngợi của các thế hệ học sinh và cha mẹ các em cũng như đồng nghiệp.  Vốn là giáo viên năng động, tâm huyết gắn bó nhiều năm với ngành  giáo dục nhất là lưa tuổi học sinh Tiểu Học, THCS, THPT , về hưu nhà giáo Lê thị Xuyến Hương được Ban chi ủy chi bộ và Ban công tác mặt trận của tổ dân phố  tin tưởng, quý mến giao nhiệm vụ tham gia chi hội khuyến học của tổ dân phố và là chi hội phó khuyến học.

         Từ khi tham gia là chi hội phó khuyến học của tổ dân phố 33. Với tất cả nhiệt huyết chăm lo cho sự nghiệp trồng người, bà vui vẻ nhận nhiệm vụ; cần mẫn, tâm huyết làm cầu nối giữa nhà trường với gia đình và địa phương trong việc chăm lo giáo dục học sinh và xây dựng gia đình, tổ dân phố học tập.

         Nhận thức sâu sắc, ý nghĩa tầm quan trọng của công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng Xã hội học tập mà  cấp ủy chi bộ 33 hàng năm ra nghị quyết chuyên đề, chỉ đạo cụ thể chi hội khuyến học triển khai thực hiện tốt chương trình công tác do Hội Khuyến học phường Trung Hòa  xây dựng. Nhiều năm qua tổ dân phố không có học sinh bỏ học; chất lượng học tập đại trà ổn định ở tỷ lệ cao ; tổ dân phố có nhiều  học sinh giỏi đạt giải từ cấp trường đến cấp quận trở lên.

         Bà Hương đã tham mưu đề xuất với chi bộ; tổ dân phố vận động ủng hộ đóng góp gây quĩ khuyến học của tổ ; do vậy trong 3 năm qua quĩ của chi hội   nhận được 17- 20 triệu đồng từ đóng góp tự nguyện của hội viên hộ gia đình, các cá nhân và tổ chức đoàn thể nòng cốt là các đồng chí đảng viên sinh hoạt hai chiều của chi bộ. Các đồng chí Đảng viên sinh hoạt hai chiều năm nào cũng ủng hộ quỹ, hỗ trợ kinh phí thưởng học sinh đạt thành tích  học sinh giỏi và xuất sắc.

         Tổ dân phố 33 hiện tại có 250 hộ; các hộ đều có các cháu học sinh theo học các cấp học. Hàng năm vào tháng 7 hoặc  chậm nhất đầu tháng 8; chi hội khuyến học  tổ chức buổi họp mặt các cháu họ sinh giỏi và xuất để phát thưởng biểu dương thành tích học tập của các cháu ; phần thưởng là hiện vật có giá trị từ 100.000đ đến 200.000đ để động viên các cháu học giỏi và xuất sắc. Thông qua buổi gặp mặt này  chi hội khuyến học tuyên dương, ghi nhận kết quả học tập của các cháu. Các cháu nhận được những lời động viên khích lệ và phát huy năm học mới tiếp tục phát huy để học tập tốt và tu dưỡng đạo đức phẩm chất tốt.

         Kết quả năm 2021 trao thưởng cho 37 cháu phát thưởng 3.700.000đ; năm 2022 trao thưởng cho 41 cháu phát thưởng là 4.100.000đ; năm 2023 trao thưởng cho 34 cháu phát thưởng là 5.200.000đ; năm 2024 có 42 cháu được chi hội phát thưởng là 5.500.000đ. 

         Chi Hội khuyến học của tổ 33 duy trì hoạt động tốt là do Bà Hương có nhiều đóng góp;  tuyên truyền vận động mọi người trong tổ dân phố cùng thực hiện về công tác khuyến học.

  Khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập, Tổ dân phố học tâp, Gia đình học tâp, Công dân học tập là công việc có tính xã hội, nhân văn sâu sắc nhưng không được hưởng thù lao chế độ. Người nhận làm công việc này nếu không có tấm lòng, không nhiệt tình lại nghĩ đến quyền lợi riêng, chẳng khi nào thực hiện được. Ngoài ra  chi hội  khuyến học của còn vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa, nét ứng xử văn minh lịch sự ở khu dân cư.

         Với tấm lòng yêu trẻ;  hăng say, nhiệt tình, gắn bó với khuyến học, khuyến tài,  xây dựng xã hội học tập hơn 3 năm qua nhà giáo Lê Thị Hương là tấm gương sáng về công tác khuyến học khuyến tài của Tổ dân phô./.

(Ngô Lê Lợi- Hà Nội , ngày 10  tháng 3  năm 2024)


Thứ Ba, 11 tháng 6, 2024

GIỚI THIỆU PHẬT GIÁO TRONG 5 PHÚT

 


Người sáng lập Phật giáo đã giác ngộ dưới một cây bồ đề tại Ấn Độ cách đây 25 thế kỷ và ngày nay cây bồ đề vẫn sống. trước khi giác ngộ, tại làng Bodh Gaya, bang Bihar, Ấn Độ. Phật Tổ Như Lai, hay Tất đạt đa Cồ Đàm theo tiếng Phạn, là người sáng lập Phật giáo.
1) Phật giáo là gì?
Phật giáo là một tôn giáo có khoảng 500 triệu tín đồ trên khắp thế giới. Từ “Phật giáo” (Buddhism) phát nguồn từ "buddhi", có nghĩa là giác ngộ, thức tỉnh. Phật giáo khởi nguồn từ hơn 2.500 năm trước, khi Ngài Siddhattha Gotama (Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm), hay Đức Phật, tự mình giác ngộ vào lúc 35 tuổi.
2) Có phải Phật giáo chỉ thuần là một tôn giáo?
Đối với nhiều người, Phật giáo không phải chỉ là một tôn giáo mà còn có thể xem như là một triết học, hay đúng hơn, đó là một lối sống. Gọi Phật giáo là một triết học, vì từ “triết học” (philosophy) có nghĩa là sự yêu chuộng trí tuệ, và con đường của đạo Phật có thể tóm tắt như sau:
. (a) Sống có đạo đức,
. (b) Nhận thức rõ ràng về mọi ý nghĩ và hành động,
. (c) Phát triển sự hiểu biết và trí tuệ.
3) Phật giáo giúp tôi bằng cách nào?
Phật giáo giải thích mục đích của đời sống, giải thích hiện tượng bất công và bất bình đẳng trên thế gian, và đưa ra một phương cách thực hành hay một lối sống để đưa đến hạnh phúc thật sự.
4) Tại sao Phật giáo trở nên phổ biến?
Phật giáo ngày càng phổ biến ở các nước Tây phương vì nhiều lý do. Thứ nhất là vì Phật giáo có những giải đáp cho nhiều vấn đề trong các xã hội vật chất hiện đại. Tiếp đến, cho những ai có chú tâm, Phật giáo đem lại một sự thông hiểu sâu sắc về tâm trí con người và các cách trị liệu tự nhiên, mà các nhà tâm lý nổi tiếng trên thế giới đều công nhận là rất tiên tiến và rất hiệu quả.
5) Đức Phật là ai?
Ngài Siddhattha Gotama sinh ra vào năm 563 trước Tây lịch, trong một hoàng tộc tại Lumbini, nay thuộc xứ Nepal. Vào năm 29 tuổi, Ngài nhận thức rằng tiện nghi vật chất và sự yên ổn trong thế gian không bảo đảm hạnh phúc; vì thế, Ngài đi tìm hiểu các học thuyết, tôn giáo và triết học vào thời đó, để tìm kiếm chìa khóa đưa đến hạnh phúc. Sau sáu năm học tập và hành thiền, Ngài tìm ra Trung đạo và giác ngộ. Sau khi chứng đắc, Ngài dùng quãng đời còn lại tại thế gian để truyền giảng các nguyên lý trong đạo Phật – gọi là Pháp hay Chân lý, cho đến khi Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi.
6) Có phải Đức Phật là Thượng Đế?
Không, Ngài không là Thượng Đế, và Ngài cũng không tuyên bố như thế. Ngài là người chỉ dẫn con đường đưa đến giác ngộ, từ kinh nghiệm thực chứng của Ngài.
7) Phật tử có tôn thờ các thần tượng không?
Những người Phật tử tỏ lòng tôn kính các hình ảnh của Đức Phật, nhưng không tôn thờ, cũng không van xin những điều lợi lạc. Một pho tượng Phật ngồi trong tư thế với hai tay dịu dàng đặt trên vế, với nụ cười từ bi, nhắc nhở chúng ta nỗ lực phát triển tình thương và an định nội tâm. Lễ lạy tượng Phật là để tỏ lòng biết ơn về các lời dạy của Ngài.
8 ) Tại sao nhiều quốc gia Phật giáo lại nghèo như vậy?
Không hẳn đúng như vậy. Nhật Bản là một quốc gia có truyền thống Phật giáo sâu đậm và ngày nay cũng là một quốc gia có kinh tế giàu mạnh. Thái Lan, với Phật giáo là quốc giáo, cũng có một nền kinh tế tương đối vững mạnh và phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cần biết rằng một trong các điều dạy của Phật giáo là tài sản của cải không bảo đảm được hạnh phúc, và tài sản của cải cũng không bao giờ thường còn. Dân chúng trong bất kỳ quốc gia nào cũng chịu đau khổ, cho dù họ giàu sang hay nghèo nàn. Chỉ những người nào thông hiểu các lời dạy của Đức Phật thì mới có thể tìm được hạnh phúc thật sự.
9) Có phải có nhiều tông phái Phật giáo không?
Có nhiều tông phái trong Phật giáo là vì có những khác biệt về văn hóa và truyền thống lịch sử của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, căn bản của Phật giáo vẫn không thay đổi, đó là Pháp hay Chân lý.
10) Có phải các tôn giáo khác đều sai lầm?
Phật giáo là một hệ thống tín ngưỡng có tính bao dung đối với các tín ngưỡng hay tôn giáo khác. Phật giáo chấp nhận các lời giảng đạo đức của các tôn giáo khác, nhưng Phật giáo còn tiến xa hơn, bằng cách đưa ra một mục tiêu dài hạn trong sự hiện hữu của chúng ta, qua trí tuệ và sự hiểu biết thật sự. Phật giáo chân chính thì rất bao dung, và không quan tâm đến các danh hiệu như là tín hữu Ki-tô giáo, tín hữu Hồi giáo, tín hữu Ấn-độ giáo hay Phật tử. Vì vậy, trong lịch sử, không bao giờ có các cuộc thánh chiến mang danh Phật giáo. Cũng vì thế mà những người Phật tử không đi truyền giảng hay cải đạo người khác; họ chỉ giảng giải nếu được ai hỏi đến.
11) Phật giáo có tính khoa học không?
Khoa học là tri thức được kết hợp thành hệ thống, qua các dữ kiện được quan sát và thực nghiệm và đề ra các định luật tổng quát của thiên nhiên. Cốt lõi của Phật giáo phù hợp với định nghĩa đó, bởi vì Tứ Thánh đế hay Bốn Chân lý Cao quý, có thể được thử nghiệm và minh chứng bởi bất kỳ người nào, và ngay chính Đức Phật cũng đã từng nói với các đệ tử rằng họ phải thực chứng các lời dạy của Ngài, mà không nên chỉ tin suông. Phật giáo dựa nhiều trên trí tuệ, hơn là lòng tin.
12) Đức Phật đã dạy những gì?
Đức Phật đã giảng dạy rất nhiều đề tài, nhưng các điều căn bản trong Phật giáo có thể tóm tắt trong Đức Phật đã giảng dạy rất nhiều đề tài, nhưng các điều căn bản trong Phật giáo có thể tóm tắt trong Tứ Thánh đế ( còn có tên Tứ Diệu Đế)  và Bát chi Thánh đạo ( là 8 Con Đường: tám phương tiện vi diệu đưa chúng sanh đến đời sống an lạc, giải thóat, tiến đến địa vị giác ngộ. Những bậc Hiền, Thánh nương theo tám phương tiện này để đi đến Niết bàn, Phật quả)
13) Thánh đế thứ nhất là gì?
Khổ đế, chân lý cao quý đầu tiên, nói rằng đời sống là đau khổ, nghĩa là phải chịu đau đớn thể xác, già nua, bệnh hoạn, rồi chết. Ta cũng phải chịu đau khổ về mặt tâm lý như cô đơn, phiền giận, bực bội, sợ hãi, bối rối, thất vọng, hay sân hận. Đây là một sự kiện hiển nhiên, không thể chối cãi. Đây là thực tế khách quan, không phải bi quan; vì bi quan là mong đợi những điều gì trở nên tệ hại. Mặt khác, Phật giáo đề ra cách thức giải quyết các đau khổ đó và cách thức để có hạnh phúc thật sự.
14) Thánh đế thứ hai là gì?
Tập đế, chân lý cao quý thứ hai, dạy rằng tất cả mọi đau khổ đều do ái dục và chấp thủ. Ta sẽ bị phiền khổ nếu ta mong đợi người khác phải tuân theo ý muốn của mình, phải làm giống như mình, nếu ta không được những gì mình muốn, v.v. Ngay cả khi ta muốn và được, điều này cũng không bảo đảm có hạnh phúc. Tâm khát khao ham muốn cướp đoạt của ta niềm vui được thỏa lòng và hạnh phúc. Thay vì kiên trì chiến đấu để thành đạt điều mong muốn, hãy cố gắng sửa đổi chính cái lòng ước muốn của mình.
15) Thánh đế thứ ba là gì?
Diệt đế, chân lý cao quý thứ ba, là có thể chấm dứt đau khổ và đạt được trạng thái thỏa lòng và hạnh phúc. Khi ta dứt bỏ ái dục, vốn là vô ích, và tập sống từng ngày, chúng ta bắt đầu sống an vui và tự do. Chúng ta sẽ có nhiều thì giờ và năng lực để giúp đỡ người khác. Trạng thái ấy được gọi là Niết-bàn.
16) Thánh đế thứ tư là gì?
Đạo đế, chân lý cao quý thứ tư, là con đường đưa đến chấm dứt đau khổ. Con đường này gọi là Bát chi Thánh đạo.
17) Bát chi Thánh đạo là gì?
Đó là con đường gồm tám yếu tố chân chánh: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, và Chánh Định. Đây là con đường của đạo đức và tỉnh thức – qua lời nói, ý nghĩ và hành động, và phát triển trí tuệ bằng sự nhận thức rõ ràng về Tứ Thánh Đế và bằng sự tăng trưởng lòng từ bi.
18 ) Ngũ giới là gì?
Đây là năm điều giới luật đạo đức của Phật giáo. Đó là: Không sát hại, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói dối, và không dùng các chất say làm lu mờ trí óc.
19) Nghiệp là gì?
Nghiệp hay nghiệp quả là một định luật cho biết rằng mỗi một nguyên nhân đều tạo ra một hậu quả, có nghĩa là các hành động của ta đều có những hậu quả. Định luật đơn giản này đã giải thích nhiều vấn đề: sự bất công trên thế gian, tại sao có người sinh ra lại có phế tật, có người lại có nhiều tài năng, có người có đời sống rất ngắn ngủi. Nghiệp cho thấy tầm quan trọng về việc tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm về các hành động của chính mình, trong quá khứ và hiện tại. Làm thế nào để thử nghiệm tác động nghiệp quả của các hành động của ta? Câu trả lời được tóm tắt bằng cách hãy nhìn xem 3 điểm chính: (1) ý định đằng sau của mỗi hành động, (2) hậu quả của hành động đó vào chính mình và (3) hậu quả của hành động đó vào những người khác.
20) Trí tuệ là gì?
Trong Phật giáo, trí tuệ phải được phát triển cùng với từ bi. Trong một cực đoan, bạn có thể là một người tốt bụng nhưng khờ dại, và trong một cực đoan khác, bạn có thể có nhiều kiến thức nhưng lại không có tình cảm. Phật giáo dạy ta nên giữ thật sự cân bằng và trọn vẹn cả hai, phải trau giồi cả trí tuệ lẫn từ bi. Trí tuệ cao nhất là thấy rõ ràng rằng trên thực tế, mọi hiện tượng đều không hoàn toàn, không thường còn, và không có một thực thể cố định. Trí tuệ thật sự không phải chỉ tin vào những gì được dạy, mà phải chứng nghiệm và thông hiểu chân lý và thực tế. Trí tuệ đòi hỏi phải có một tâm ý rộng mở, khách quan, không cố chấp. Con đường của Phật giáo đòi hỏi phải can đảm, nhẫn nại, mềm dẻo và thông minh.
21) Từ bi là gì?
Từ bi bao gồm các phẩm hạnh của lòng san sẻ, sẵn sàng an ủi người khác, thiện cảm, chăm lo và quan tâm. Trong Phật giáo, ta chỉ thật sự cảm thông người khác khi nào ta thật sự cảm thông chính mình, qua trí tuệ.
22) Tôi phải làm thế nào để trở thành một Phật tử?
Bất cứ ai cũng có thể tìm hiểu và thực nghiệm các lời dạy của Đức Phật. Ngài dạy rằng lời giải đáp cho mọi vấn đề của chúng ta là ở bên trong chúng ta, không phải ở bên ngoài. Ngài nói với các đệ tử không được tin ngay vào lời dạy của Ngài, mà họ phải tự thử nghiệm các lời dạy đó. Như thế, mỗi người tự có quyết định và tự chịu trách nhiệm về các hành động và sự hiểu biết của mình. Điều này cho thấy Phật giáo không phải là một tập hợp cố định các tín điều cần phải được chấp nhận trọn vẹn. Đây là những lời dạy để mỗi người tự tìm hiểu, học tập và áp dụng theo tình huống riêng của mình.
(Nguồn từ Phật giáo)
Tất cả cảm xúc:
Ngo Le Loi
Thích
Bình luận
Chia sẻ